Thứ Tư, 3 tháng 3, 2021

Thuốc lá – tác nhân chính gây ô nhiễm môi trường

 Khoa học đã chứng minh thuốc lá tác động xấu đến sức khỏe. Việc sử dụng thuốc lá ảnh hưởng đến kinh tế gia đình, xã hội và môi trường sống.

Bảo vệ môi trường sống bằng cách không hút thuốc lá. Ảnh minh họa.
Bảo vệ môi trường sống bằng cách không hút thuốc lá. Ảnh minh họa.

      Khói thuốc “sản xuất” ra nhiều hạt muội – yếu tố gây ô nhiễm không khí nguy hiểm nhất đối với sức khoẻ con người – hơn cả khói diesel. Những người hút thuốc có lẽ không biết rằng lượng chất độc họ tạo ra khi hút ba điếu thuốc nhiều gấp 10 lần lượng chất độc do một chiếc xe hơi thải ra.

      Hút thuốc là nguyên nhân chính gây nên ô nhiễm không khí trong nhà, nơi làm việc, trường học, khu vực công cộng do khói thuốc thải ra ngoài không khí hàng ngàn chất hóa học độc hại. Ngoài tác hại đối với sức khỏe thì thuốc lá cũng góp phần không nhỏ vào việc hủy hoại môi trường. Các đầu mẩu thuốc lá và vỏ bao sau khi sử dụng sinh ra một khối lượng rác thải lớn; ước tính mỗi năm có tới 4.500 tỷ đầu lọc thuốc lá thải ra ngoài môi trường. Không chỉ là rác thải bẩn, đầu lọc thuốc lá còn gây hại cho các sinh vật dưới nước nếu bị bỏ lại trên bãi biển, sông, hồ hoặc trôi xuống cống thoát nước vì phải mất từ 5 – 7 năm mới phân hủy hết.

      Ở Việt Nam, từ lâu hút thuốc lá đã trở thành thói quen xấu của nhiều người. Chúng ta thường bắt gặp ở những quán nước, quán ăn, công trường, cơ quan, đơn vị… nhiều người, mọi lứa tuổi đều phì phèo điếu thuốc trên môi. Hằng năm, có 40 nghìn người Việt Nam chết vì các bệnh do thuốc lá. Một khảo sát của Bộ Y tế được tiến hành với hơn 2 nghìn người có và không hút thuốc lá tại 5 tỉnh, thành (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Đồng Tháp và Thái Bình) cho thấy: 75% số người hút thuốc nói họ có nhiều khả năng bỏ thuốc hơn sau khi xem thông điệp truyền thông bằng hình ảnh; gần 80% số người được hỏi cho biết phản đối việc phải tiếp xúc với khói thuốc thụ động tại nơi công cộng.

      Phụ nữ và trẻ em bị ảnh hưởng thụ động của khói thuốc lá. Việt Nam là một trong những nước có số người hút thuốc lá cao nhất thế giới. Có thể thấy, tác động của thuốc lá ảnh hưởng đến sức khỏe và môi trường rõ rệt như: Phá rừng lấy đất trồng cây thuốc lá, lấy củi sấy thuốc lá. Diện tích đất ở những nơi trồng nhiều cây thuốc lá thường có tình trạng bạc màu, cằn cỗi, đặc biệt ở vùng đồi dốc. Trung bình mỗi vụ trồng thuốc lá dài ba tháng, người nông dân phải sử dụng 16 loại thuốc trừ sâu và nhiều loại phân bón hóa học. Nông dân trồng thuốc lá dễ bị mắc các bệnh liên quan đến việc sử dụng những hóa chất độc hại này. Quá trình sản xuất thuốc lá tạo ra lượng chất thải rất lớn, trong đó ngoài những chất hữu cơ thông thường như bụi than, giấy vụn… và nhiều chất độc khác có trong bụi thuốc lá và môi trường không khí tại nơi sản xuất và khu vực lân cận.

       Thuốc lá là nguyên nhân gây nên nhiều bệnh tật và tử vong nhưng hoàn toàn có thể phòng ngừa được nếu mọi người thực hiện nghiêm những quy định của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá.

Sông Cầu ô nhiễm: Bắc Giang "kêu" lên Bộ, Bắc Ninh lại ra văn bản hoả tốc

 

Sông Ngũ Huyện Khê, nơi đổ ra sông Cầu, đã trở thành một dòng sông chết. Ảnh: Trần Tuấn.
Sông Ngũ Huyện Khê, nơi đổ ra sông Cầu, đã trở thành một dòng sông chết. Ảnh: Trần Tuấn.

Bắc Giang: Sông Cẩm Đàn bị ô nhiễm nghiêm trọng vì khai thác khoáng sản

Suốt thời gian dài, dòng sông Cẩm Đàn huyện Sơn Động,tỉnh Bắc Giang bị ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, do các doanh nghiệp khai thác khoáng sản gây nên. Khu vực xã Cẩm Đàn, Yên Định, doanh nghiệp vô tư xả thải trực tiếp ra môi trường “bức tử” dòng sông.

Dòng sông Cẩm Đàn, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang đục ngầu vì ô nhiễm.

Ngày 16/12/2020, ông Nguyễn Văn D. người dân sinh sống tại xã Cẩm Đàn, bức xúc phản ánh: Người dân chúng tôi nơi đây rất lo lắng trước tình trạng khai thác khoáng sản của các Doanh nghiệp. Họ khai thác kiểu “bất chấp pháp luật” nghĩa là tự do khai thác, không phải tuân theo bất kỳ quy trình nào. Hoạt động cả ngày lẫn đêm, trên bờ thì dùng máy xúc, xúc đào xuống, bốc cát, sỏi lên ô tô chở đi, dưới sông, tầu cuốc cỡ lớn tự do đào xới.

Ông D. lo lắng nói: Tôi sợ rằng nếu các Doanh nghiệp vẫn tiếp tục khai thác theo kiểu “bất chấp” như vậy, không chỉ làm cạn kiệt khoáng sản, gây ô nhiễm môi trường, mà còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ làm sạt lở toàn bộ ruộng nương ở ven sông của người dân chúng tôi nơi đây. Tất cả cũng vì lợi ích của một số các nhân và quan chức địa phương mà thôi.

Sáng ngày 17/12/2020, ghi nhận thực tế tại khu vực thôn Nhân Định, xã Yên Định, thôn Gốc Gạo, xã Cẩm Đàn, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, nhóm phóng viên chúng tôi có dịp “mục sở thị”. Công ty TNHH Giai Thị và Công ty khai thác cát sỏi Việt Bắc, đang dùng máy xúc, tàu cát, ô tô “mới gắn, móc mật” rút ruột dòng sông để lấy khoáng sản. Không những thế hai Doanh nghiệp này con ngang nhiên xả thải trực tiếp ra môi trường khiến dòng sông “đục ngầu” ô nhiễm.

Khu vực xóm Gốc Gạo, xã Cẩm Đàn, Công ty TNHH Giai Thị ngang nhiên dùng đủ loại phương tiện máy móc hiện đại, ngăn sông, đắp đập, râng nước cho tầu cuốc, máy xúc đào xới “be bét” dòng sông. Để thuận tiện cho việc “moi gan, rút ruột” dòng sông, doanh nghiệp này đã tự ý cho đắp một con đập lớn ngăn sông ở khu vực xóm Gốc Gạo. Từ bờ sông bên kia dùng máy xúc, múc cát sỏi dưới sông chất đầy lên thùng những chiếc xe tải. Từ đây những chiếc xe này băng qua dòng sông bằng con đập được doanh nghiệp tự đắp, chở khoáng sản về bãi tập kết ở khu vực thôn Thượng để tuyển rửa.

Công ty TNHH Giai Thị, tự ý cho đắp một con đập lớn ngăn sông ở khu vực xóm Gốc Gạo

Trên bờ thì dùng máy xúc, xúc đào xuống, bốc cát, sỏi lên ô tô chở đi, dưới sông, tầu cuốc cỡ lớn tự do đào xới dòng sông.

Trao đổi với Chủ tịch UBND xã Cẩm Đàn ông Lê Văn Hồng cho biết: Khi nhận được phản ánh của người dân về việc Công ty TNHH Giai Thị, khai thác khoáng sản gây ô nhiễm môi trường, sạt lở bờ sông. UBND xã cũng đã cử cán bộ xuống kiểm tra phát hiện Doanh nghiệp này đang khai thác ngoài khu vực được cấp phép. Khi phóng viên yêu cầu tiếp cận giấy phép hoạt động của Doanh nghiệp này, thì địa phương nơi đây không cung cấp được.

Doanh nghiệp bị đình chỉ vẫn ngang nhiên hoạt động.

Địa bàn xóm Nhân Định, xã Yên Định, Công ty khai thác cát sỏi Việt Bắc, cũng đang dùng máy xúc cỡ lớn, vục thẳng gầu xuống lòng sông lấy khoáng sản rồi chở lên ven bờ để tuyển rửa. Nước thải được Doanh nghiệp này xả thẳng xuống dòng sông, không hề qua bể xử lý. Do khai thác theo kiểu “sống gấp” đào lấy được, bất chấp mọi giá để khai thác khoáng sản, nên hai bờ dòng sông nhiều đoạn có nguy cơ sạt lở rất cao.

Bị đình chỉ nhưng Công ty khai thác cát sỏi Việt Bắc, vẫn hoạt động khu vực xóm Nhân Định, xã Yên Định, huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang.

Làm việc với ông Hoàng Mạnh Hùng, Chủ tịch UBND xã Yên Định chúng tôi được biết: Vừa qua UBND xã cũng đã đình chỉ khai thác khoáng sản trái phép đối với ông Phạm Ngọc Thắng, xã viên của Công ty khai thác cát sỏi Việt Bắc tại khu vực xóm Nhân Định, xã Yên Định. Trên thực tế Doanh nghiệp trên vẫn hiên ngang hoạt động, chấp quyết định đình chỉ của UBND xã.

Qua làm việc với chính quyền địa phương nơi đây chúng tôi nhận thấy, sự coi thường pháp luật của các Doanh nghiệp khai thác khoáng sản, thiếu trách nhiệm trong công tác bảo vệ môi trường.

Doanh nghiệp đang phớt lờ coi thường kỷ cương pháp luật, tài nguyên quốc gia bị rút ruột, đề nghị, chính quyền tỉnh Bắc Giang khẩn trương vào cuộc xử lý sự việc trên, sớm trả lại cho người dân nơi đây môi trường trong lành như vốn có.

Báo Tài nguyên và Môi trường tiếp tục thông tin./.

Vấn đề ô nhiễm môi trường sống tại Bắc Giang

Tốc độ đô thị hóa nhanh

Việc sản xuất tạo ra không khí ô nhiễm

Diện tích trồng rừng thu hẹp

Các thiết bị gây ô nhiễm như ôtô; xe máy...

Việc đun nấu từ các viên than tổ ong

Các bãi rác tự sinh do việc vứt rác bừa bãi

Việc tắc đường xảy ra cũng gây ô nhiễm môi trường...

Từ các loại gây ô nhiễm được chúng ta cần thống kê các nguồn gây ô nhiễm môi trường. Có cách giải pháp mang tính lâu dài làm giảm thiểu ô nhiễm

- Trồng nhiều cây xanh ở đô thị

- Tích trữ nhiều nước bằng việc xây dựng nhiều hồ nước lớn

- Kiểm soát hạn chế các nguồn gây ô nhiễm

- Thay đổi nhận thức của người dân về ý thức bảo vệ môi trường sống

- Có chiến lược xây dựng các nhà máy xử lý; tái chế rác thải

- Lắng nghe ý kiến của người dân về các vấn đề liên quan đến ô nhiễm môi trường




Thứ Tư, 24 tháng 2, 2021

Bạn kiếm tiền bằng cách nào?

 Bằng vệc mua bán trao đổi hàng hóa

CÁCH ĐẦU TƯ ĐÚNG ?

    Bài viết này để trả lời nhanh một số câu hỏi của nhiều bạn bè và người thân muốn tìm hiểu về TTCK VN và mong muốn tham gia đầu tư chứng khoán. Các thông tin và kết luận dưới đây được tổng hợp từ các thống kê thực tế và kinh nghiệm cá nhân.
    1. Mức tăng hợp lý của TTCK? 
    Trong 10 năm qua, VN-Index (đại diện cho TTCK VN) tăng trung bình 9%/năm, bằng với mức tăng EPS. Trên thế giới S&P500 cũng tăng trung bình 9%/năm trong 100 năm qua (tăng cao nhất trong các kênh tài sản tài chính bao gồm vàng, bạc, trái phiếu, tiền gửi, ngoại tệ, hàng hóa khác). Lợi nhuận DN tăng trưởng 10-15%/năm là động lực chính của sự tăng giá dài hạn của TTCK. 
    Nhưng TTCK ko tăng đều 9%/năm. Trong 10 năm 2011-2021, VN-Index có 3 năm giảm (2010,2011,2018) và 7 năm tăng. Thị trường có nhiều lần giảm 20-40% và tăng 30-50% chỉ trong vài tháng. Đây là một rủi ro và cũng là điểm thú vị của TTCK.
    2. Định giá thay đổi ntn? 
    VN-Index bị định giá rẻ (P/E 10-14.x) trong các giai đoạn khủng hoảng, bất ổn vĩ mô, tăng trưởng thấp; và được định giá cao (P/E 20-3x) trong các giai đoạn tăng trưởng nhanh, lãi suất thấp, đón dòng tiền mạnh từ thăng hạng thị trường. Trong các giai đoạn tăng trưởng bình thường và ổn định, VN-Index có P/E 15-20.x. 
    Những cuộc khủng hoảng thường đưa thị trường về mức rẻ lịch sử (P/E 10.x) là thời điểm mua tuyệt vời nhất (ví dụ khủng hoảng COVID 3/2020). Hiện nay, VN-Index đang có P/E 18.x quanh mức trung bình, lợi thế giá rẻ không còn. Triển vọng tăng trưởng tích cực trên một nền lãi suất thấp, vĩ mô ổn định, cộng với khả năng sớm được nâng hạng lên Emerging Market có thể nâng định giá P/E của VN-Index lên mặt bằng mới.
Tuy nhiên, khi mặt bằng định giá chung không còn rẻ, lựa chọn CP sẽ quyết định hiệu quả đầu tư.
    3. Hiệu quả đầu tư CP và kỳ vọng nào là hợp lý? 
    Tính trên số đông, 80% NĐT cả cá nhân và tổ chức đầu tư ko hiệu quả hơn Index, và trên 50% số NĐT cá nhân ko có lãi ngay cả trong những năm thị trường tăng (thống kê thực tế từ 1 số CTCK lớn trong nhiều năm). Vì vậy, đối với đa số NĐT khi quyết định bỏ tiền vào kênh tài sản này, cần xác định mức LỢI NHUẬN KỲ VỌNG HỢP LÝ là 10-15%/năm cho trung bình dài hạn. Dù làm được điều này cũng không hề dễ dàng. 
    4. NĐT thua lỗ có một số đặc điểm chung gì? 
- mua bán quá nhiều (hơn 1 vòng/tháng) và cố gắng kiếm tiền theo các biến động ngắn hạn của thị trường và CP.
- sử dụng đòn bẩy tài chính lớn (thường xuyên vay > 69% vốn tự có).
- giữ chặt CP có chất lượng kém giảm giá, bán sớm cổ phiếu tốt mới tăng.
- mua bán theo thông tin được phím, mua đuổi khi có tin tốt, bán theo khi ra tin xấu, mua khi hưng phấn, bán khi sợ, hành động theo tâm lý bầy đàn.
- không có hiểu biết sâu sắc về thị trường, ngành nghề và doanh nghiệp, ko có phương pháp đo lường và quản trị rủi ro, ko có có lợi thế đặc biệt trong cả trading lẫn đầu tư. 
Kết quả: Chọn cổ phiếu sai, mua cao bán thấp, và trả nhiều phí môi giới và lãi vay (10-30% vốn/năm).
Lý do: Các hành động gây thua lỗ kể trên hầu hết phù hợp với các bản năng gốc cơ bản của con người, nên rất dễ mắc nhưng khó thay đổi !!! 
    5. Như thế nào là NĐT thành công?
    NĐT thành công có thể phân nhóm theo lợi nhuận trung bình dài hạn (trên 10 năm):
Tốt: 10%-20%/năm - thuộc top 10% chiến thắng thị trường,
Giỏi: 20%-30%/năm - thuộc top 3% chiến thắng thị trường,
Xuất sắc: >30%/năm - thuộc top 1% chiến thắng thị trường.
Những NĐT này có phương pháp và hệ thống đầu tư/trading khác biệt và xây dựng được lợi thế rõ ràng so với phần đông NĐT trên thị trường. 
    6. Học đầu tư và đầu tư hiệu quả có dễ?
    Có nhiều phong cách đầu tư mang lại hiệu quả tốt. Nhưng quan trọng nhất, NĐT cần tìm được PHƯƠNG PHÁP PHÙ HỢP VỚI TÍNH CÁCH VÀ ĐIỀU KIỆN của mình để có thể dễ dàng học, áp dụng và kiên trì theo đuổi.
    Những guru đầu tư thành công nhất trên thế giới đa phần đều rất cởi mở trong việc chia sẻ về triết lý và phương pháp đầu tư của mình. Mọi người đều có thể dễ dàng tìm đọc các sách và notes họ viết, hoặc theo dõi các video các cuộc phỏng vấn, trao đổi của các top investors/traders này để học hỏi. 
Các phương pháp đầu tư hiệu quả hầu hết không quá phức tạp để tìm hiểu nhưng luôn khó để thực hiện tốt. Nó yêu cầu sự tuân thủ và kỷ luật hành động nhiều khi đi ngược lại bản năng của chúng ta. Bởi vậy tìm được phương pháp đầu tư hiệu quả và PHÙ HỌP là ko dễ dàng. Và kết quả vượt trội thường không dành cho số đông. 
    7. NĐT F0 nên làm gì?
    Với những ai không có điều kiện dành hết thời gian và tâm sức cho nghề đầu tư, lựa chọn tốt khi muốn phân bổ tài sản vào kênh chứng khoán là:
1. mua các Chứng chỉ Quỹ chỉ số, 
2. ủy thác cho các NĐT chuyên nghiệp đã có uy tín và record tốt,
3. dành một phần tiền tự đầu tư cho những CP mà mình đã lựa chọn kỹ và ĐẶC BIỆT HIỂU RÕ.
8. TTCK VN - 10 năm khói lửa 2011-2021 đã mang lại gì cho NĐT? (hình 2)
    VN-Index hiện đang ở quanh mốc cao lịch sử 1200 điểm sau khi tăng 130% trong 10 năm qua. Trong đó không ít lần thị trường chịu tác động xấu khiến Vnindex giảm giá mạnh 20-40% rồi tăng mạnh 30-50% chỉ trong vài tháng. 
    Nhưng điều thú vị của TTCK không chỉ nằm ở biến động của VN-Index. Giá trị lớn nhất TTCK mang lại cho NĐT nằm ở câu chuyện của từng cổ phiếu. Có thể phân loại CP thành 4 nhóm theo mức độ tăng/giảm giá 10 năm qua:
- Nhóm Tuyệt vời - tăng 8-12 lần, 25%-30%/năm: HPG PNJ VNM MWG... (1 số Midcap như VCS, PTB tăng giá 30 lần)
- Nhóm Tốt - tăng 5-6 lần, 20%/năm : FPT VIC MBB VCB...
- Nhóm Trung bình - tăng 2-3 lần, 6%-12%/năm: CTG SSI MSN...
- Nhóm Tồi - lỗ từ 15%-85%: BVH FLC SJS, PVX, HAG....
    9. Vật đổi sao rời, rủi ro và cơ hội: 
    HAG, BVH, SJS, PVX đã từng là những CP tuyệt với tăng giá rất tốt trong giai đoạn 2006-2010. VNM và CTD2 CP tốt nhất VN trong giai đoạn 2010-2016, nhưng 5 năm qua giá VNM chỉ còn tăng thấp hơn ls ngân hàng, còn CTD lỗ 50% thị giá. Rất nhiều sự đổi ngôi đã, đang, và sẽ diễn ra. Điều đó tạo ra rủi ro, đồng thời cũng chính là vẻ đẹp và sự quyến rũ của thị trường chứng khoán.
    10. Kết bài: 
    Công việc chính của mọi NĐT nằm ở hai quyết định: lựa chọn thời điểm, và lựa chọn cổ phiếu. Chọn thời điểm tốt giúp giảm rủi ro và mang lại lợi thế, còn chọn CP tốt giúp mang lại gia tài.
Nhìn sang các nền kinh tế đi trước Việt Nam để thấy hai xu hướng dài hạn: 
- mặt bằng lãi suất tiền gửi sẽ tiếp tục giảm. 
- và đầu tư tài chính là con đường tất yếu trong quá trình tích lũy và phát triển tài sản cá nhân. 
Chúc mọi người có những trải nghiệm thú vị và hiệu quả với nghề đầu tư!

Thứ Ba, 23 tháng 2, 2021

Thị trường có hai bên mua bán

Khi tham gia thị trường bạn nằm ở 2 nhóm tâm lý

+ Nhóm Mua: Nhóm đang cầm tiền đi mua Cổ phiếu mong rằng khi mua CP ở mức giá A và kỳ vọng tăng được lên đến Mức giá B

+ Nhóm Bán: Nhóm cầm Cổ phiếu, sau một khoảng thời gian mua CP sinh lời thì có tâm lý chốt lời Cổ phiếu hoặc thấy sự giảm điểm quá nhanh của thị trường cũng muốn cắt lỗ.

Vậy nguyên lý tham gia Thị trường là gì?

+ Cần lựa chọn điểm vào lệnh một cách hợp lý nên chọn mua theo công thức khi mua giá tăng

+ Bạn phải có một lý do để mua Cổ phiếu: Đưa ra đầy đủ các lý do để mua bằng phân tích tâm lý và Phân tích kỹ thuật. Nghiên cứu 100 Cổ phiếu tốt; Chọn lấy 10 Cổ phiếu khi tham gia trên thị trường. Hãy vào lệnh theo các tỷ lệ 20% vốn sau đó tăng dần đến 30% vốn; Sau đó nếu thấy tăng tốt sẽ vào tiếp 50% vốn.

+ Xây dựng kịch bản tăng của Cổ phiếu cần theo dõi theo ngày

+ Có định mức rõ ràng giữ % chốt lời và cắt lỗ

+ Không đi theo tâm lý đám đông

+ Tiếp thu các thông tin từ thị trường Chứng khoán quốc tế, Các tin túc về thị trường hàng hóa để nắm bắt triển vọng đầu tư về ngành nghề bạn đầu tư.

+ Xem xét việc đầu tư nước ngoài đang quan tâm vào mã chứng khoán nào?. 

+ Không được nghe theo sự xui khiến của ai đó mà chưa phân tích kỹ càng

+ Tin tưởng là mình thành công

+ Không được quyết định chớp nhoáng

+ Không được để mất tiền trên thị trường, Cần có phân bổ rủi ro

+ Mua mã cổ phiếu của ngành có yếu tố dẫn đầu thị trường

+ Tham gia tìm hiểu các mã Cổ phiếu trong rổ VN 30

+ Xem xét các mã Cổ phiếu được nhiều người quan tâm nhưng chú ý là không được quyết định mù quáng. Chỉ dành 10% tiền cho việc đầu tư mạo hiểm này thôi nhé



Tín hiệu của việc bán tháo Cổ phiếu

Các nguyên nhân bán tháo là do:

- Tâm lý nhiều nhà đầu tư chứng khoán có phần lo lắng do dịch bệnh bừng phát.

- Các Cổ phiếu tăng quá nóng đến giai đoạn điều chỉnh

- Cổ phiếu rác (penney) đễ bị bán tháo.

    Trên thị trường, tâm lý các nhà đầu tư luôn chi phối rất lớn đến mức độ ổn định của thị trường, đặc biệt là đối với thị trường tài chính, sự tác động của yếu tố tâm lý luôn diễn biến rất phức tạp, khiến thị trường tài chính luôn tiềm ẩn yếu tố bất ổn định rất cao, là nhân tố chủ chốt gây ra các cuộc hoảng loạn thị trường, khiến cho việc triển khai các chính sách kinh tế vĩ mô luôn gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí kết quả đi ngược so với mục tiêu kỳ vọng. Có thể hiểu nhà đầu tư (NĐT) là người thực hiện các hoạt động đầu tư trên những phân khúc thị trường khác nhau, dưới các hình thức khác nhau nhằm thu được các lợi ích theo kỳ vọng. NĐT bao hàm cả NĐT tổ chức và NĐT cá nhân. Trong mỗi nền kinh tế, NĐT có vai trò rất quan trọng, bởi họ là người khai phá các cơ hội đầu tư trong nền kinh tế, giúp bổ sung nguồn lực cho đầu tư phát triển, từ đó giúp thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển.

    Tâm lý NĐT trên thị trường tài chính là sự phản ánh thái độ của NĐT trước các diễn biến của thị trường tài chính. Bất cứ diễn biến nào của thị trường tài chính đều tác động tức thời đến diễn biến tâm lý của NĐT. 

Trên thị trường tài chính Việt Nam, NĐT có các đặc điểm tâm lý sau:

Thứ nhất, tâm lý tự tin thái quá 1

    Đặc điểm tâm lý chung của người Việt Nam là năng động và linh hoạt, với tâm lý này giúp cho người Việt Nam dễ thích ứng với mọi hoàn cảnh. Có lẽ tâm lý này xuất phát từ hoàn cảnh sống của người Việt từ xa xưa cho đến nay luôn phải đối mặt với điều kiện thiên tai khắc nghiệt, lại phải thường xuyên chống lại các thế lực ngoại bang xâm lược và chính vì có tính năng động linh hoạt này, nên cho dù trong bất cứ điều kiện và hoàn cảnh nào thì người Việt luôn dễ dàng thích ứng chứ không chịu khuất phục, không bị đánh mất bản sắc dân tộc. Trên thị trường tài chính, tính năng động và linh hoạt sẽ giúp các NĐT luôn tự tin và ứng phó rất nhanh với các diễn biến của thị trường, tuy vậy, do sự hạn chế nhất định về nhận thức thị trường (cả về các giao dịch trên thị trường lẫn thông tin thị trường), nên sự linh hoạt và năng động này rất dễ nghiêng sang thái cực dễ bị dao động. Với thiên hướng dễ bị dao động trước các diễn biến bất thường của thị trường, sẽ khiến cho thị trường tài chính càng bị rung lắc mạnh hơn, khi đó các chính sách tài chính tiền tệ sẽ bị suy giảm hiệu lực. 

    Tâm lý tự tin thái quá của NĐT dẫn đến loại tâm lý lạc quan hoặc bi quan thái quá

    Lạc quan là một trạng thái tâm lý tích cực, nó giúp cho con người vượt qua những hoàn cảnh sóng gió bất lợi, từ đó giúp con người vượt qua mọi khó khăn thách thức. Chính nhờ người Việt Nam có tâm lý lạc quan, luôn tin vào sức mạnh nội tại, nên chúng ta đã chiến thắng tất cả các kẻ thù xâm lược, cho dù đó là những cường quốc ngoại bang. Tuy vậy, nếu lạc quan thái quá thì không hẳn là một ưu thế, bởi rất có thể con người không nhận thức hết được những rào cản, hay nói cách khác, tâm lý này rất dễ khiến con người có thái độ “bất chấp”. Với thái độ bất chấp, khi vấp phải những rào cản không thể vượt qua được, có thể khiến người ta có tâm lý bi quan, chán nản và lại dễ sa lầy vào tâm lý bi quan. Trên thị trường tài chính, tâm lý lạc quan sẽ giúp cho các NĐT khi kinh doanh bị thua lỗ cũng không bị mất tinh thần. Tuy vậy, nếu NĐT có tâm lý lạc quan thái quá thì rất dễ bị cuốn vào các hoạt động kinh doanh cho dù đang bị thua lỗ và không biết đến điểm dừng và một khi NĐT bị thua lỗ quá lớn thì rất dễ bị chuyển sang thái cực khác đó là bi quan quá mức. Sự bi quan quá mức của các NĐT sẽ khiến thị trường tài chính bị đóng băng kéo dài, khi đó các chính sách tài chính tiền tệ sẽ bị suy giảm hiệu lực.

Thứ hai, tâm lý hối tiếc 2

    Đặc điểm tâm lý người Việt là sống thiên về tình cảm (duy tình hơn duy lý), điều này có nguồn gốc từ văn hóa phương Đông cũng như chính từ những khó khăn do thiên tai, địch họa mà con người luôn phải đối mặt và để có thể “sống chung” với những hoàn cảnh khắc nghiệt này thì bắt buộc con người phải đoàn kết với nhau, sự tính toán “thiệt hơn” thường ít khi được đặt ra trong các quan hệ cộng đồng. Xét trên khía cạnh này thì đây là một ưu điểm, nó cho phép gắn kết các cộng đồng với nhau và con người ít tính toán cá nhân. Trong hoạt động kinh tế nói chung, nhất là trên thị trường tài chính, đặc điểm tâm lý này chi phối rất mạnh tới các quyết định của NĐT, khi ấy, NĐT thiên về yếu tố cảm tính cá nhân để đưa ra các quyết định đầu tư của mình (thay vì ra quyết định đầu tư theo sự mách bảo của lý trí). Hơn nữa, triết lý sống “duy tình” dễ dẫn đến sự nể nang nhau trong các quan hệ tài chính, coi nhẹ các ràng buộc trách nhiệm. Sự lỏng lẻo trong hoạt động tài chính dễ dẫn đến những rủi ro đổ vỡ tài chính, bởi vì triết lý “duy tình hơn duy lý” sẽ khiến cho người ta có tâm lý “cả tin” dễ bị dụ dỗ vào các cạm bẫy tài chính.

Thứ ba, tâm lý bầy đàn 3

    Các cuộc chạy đua nâng lãi suất (LS) huy động của các NHTM xuất phát từ ứng xử của người gửi tiền, những dòng người lũ lượt chờ chực tại các tiệm kim hoàn để mua vàng, các làn sóng mua bán chứng khoán, các hoạt động đầu cơ ngoại tệ … những năm qua cho thấy rằng “hành xử theo đám đông” là một đặc điểm tâm lý của người Việt Nam trên thị trường tài chính. Tâm lý này xuất phát từ nhiều nguyên nhân: Kinh nghiệm ít và tính chuyên nghiệp chưa cao khi tham gia trên thị trường tài chính, thông tin trên thị trường tài chính thiếu minh bạch, giao dịch nội gián chưa được kiểm soát tốt… khiến các NĐT thường hành xử theo đám đông. Tâm lý này đã và đang tiếp tục gây ra các vụ hoảng loạn trên thị trường tài chính. Từ đó đặt ra yêu cầu với các nhà chức trách là phải biết nắm bắt được xu hướng vận hành đám đông trên cơ sở phải “nắm được người có tóc” thì các chính sách tài chính mới có hiệu lực 4. 

Thứ tư, tâm lý bảo toàn - không muốn mất mát 5

    Trên thị trường tài chính Việt Nam, NĐT thường là những người có tiền tiết kiệm và việc phân bổ các khoản tiền tiết kiệm này như thế nào hoàn toàn phụ thuộc vào trạng thái tâm lý của họ. Khi NĐT có tâm lý bi quan cũng có nghĩa rằng họ ít tin vào các chính sách tài chính, hay nói cách khác tâm lý bi quan chính là sự phản ứng của NĐT với môi trường chính sách và nó cũng đồng thời hình thành nên loại tâm lý “tự bảo vệ bản thân” - là một vấn đề tất yếu với các NĐT trên những thị trường tài chính thiếu minh bạch6. Nếu như tâm lý này diễn biến phức tạp có thể hình thành loại tâm lý mới khác – tâm lý đối chọi chính sách: với tâm lý này, các NĐT luôn cho rằng việc ban hành ra các chính sách tài chính chẳng qua chỉ để cấm đoán, o ép, bắt các NĐT vào các khuôn khổ không có lợi… và vì vậy các NĐT luôn tìm cách để đối chọi với chính sách, “lách” chính sách miễn sao có lợi cho cá nhân NĐT. Ứng phó với loại tâm lý này, các nhà làm chính sách trên thị trường tài chính không chỉ phải quan tâm đến việc ban hành các chính sách sao cho “đẹp” về nội dung, mà rất cần phải quan tâm đến việc làm thế nào để “bịt” các kẽ hở trong các văn bản chính sách mà NĐT có thể lợi dụng để trục lợi cá nhân, gây phương hại đến lợi ích chung - làm hiệu lực của chính sách tài chính bị suy giảm.
Thứ năm, tâm lý dựa vào kinh nghiệm 7
    Khi đề cập đến tố chất của người Việt Nam hiện có khá nhiều quan điểm khác nhau: Có ý kiến cho rằng người Việt Nam có tố chất thông minh - được thể hiện qua các kỳ thi học sinh giỏi quốc tế ở hầu hết các môn học bậc trung học phổ thông hoặc thi năng khiếu nghề. Tuy vậy, cũng không ít ý kiến cho rằng người Việt Nam không thông minh, mà chỉ là “lanh lợi” - thể hiện ở chỗ người Việt Nam chỉ giỏi “bắt chước, làm theo” chứ ít có khả năng sáng tạo như người Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… Đây chính là loại tâm lý “thích đi theo lối mòn” của người Việt Nam. Trên thị trường tài chính, tâm lý này khiến cho việc triển khai các công cụ tài chính mới rất khó khăn.

2. Các nhân tố chi phối tâm lý NĐT

Thứ nhất, năng lực của NĐT hạn chế
Năng lực của NĐT có thể được nhìn nhận trên các góc độ: 
(i) Trình độ chuyên môn; 
(ii) Kinh nghiệm đầu tư. Các kết quả khảo sát nghiên cứu về năng lực của các NĐT trên thị trường chứng khoán Việt Nam của Nguyễn Đức Hiển (2012) cho thấy: 
Về trình độ học vấn 8: 
Có tới 76% NĐT chứng khoán có trình độ cao đẳng, đại học, hơn nữa, các NĐT chủ yếu làm trong ngành tài chính - ngân hàng (NH). 
Về kinh nghiệm đầu tư: 
Nghiên cứu trên cho thấy rằng, có tới 66% NĐT trên thị trường chứng khoán Việt Nam có rất ít kinh nghiệm (chỉ từ 1-5 năm kinh nghiệm), còn các NĐT có trên 5 năm kinh nghiệm chỉ khoảng 23%. 
Như vậy, có thể thấy rằng, mặc dù các NĐT trên thị trường tài chính có trình độ học vấn cao, nên về nguyên lý thì xu hướng họ sẽ tham gia nhiều hơn vào các hoạt động đầu tư trên thị trường tài chính. Tuy vậy, do ít kinh nghiệm đầu tư trên thị trường tài chính, nên cũng là rào cản đối với các NĐT tham gia vào các hoạt động đầu tư tài chính, cũng có nghĩa là một khi các NĐT mặc dù có trình độ cao nhưng chưa có nhiều kinh nghiệm đầu tư vào thị trường tài chính thì diễn biến các hoạt động đầu tư sẽ rất khó lường, đe dọa sự ổn định bền vững của thị trường tài chính, đặc biệt là với thị trường chứng khoán.
Thứ hai, độ tuổi của NĐT cao 9
Kết quả khảo sát của Nguyễn Đức Hiển (2012) cũng chỉ ra rằng, 3% NĐT có độ tuổi dưới 25; 33% có độ tuổi từ 25-35; 56% có độ tuổi từ 36-55; 8% có độ tuổi trên 55. Có nghĩa là đa phần NĐT trên thị trường tài chính của Việt Nam ở độ tuổi khá cao, điều này có ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề phân bổ tài khoản đầu tư.
Thứ ba, NĐT chủ yếu là nam giới
Các NĐT trên thị trường tài chính chủ yếu vẫn là nam giới với tỷ lệ lên tới 65% tổng các NĐT trên thị trường. (Nguyễn Đức Hiển, 2012). Các nghiên cứu cho thấy trên thị trường tài chính thì nam giới thường có mức độ tự tin trong đầu tư cao hơn nữ giới. Tuy vậy, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mức độ thành công trong các giao dịch tài chính của nữ giới thường cao hơn so với nam giới. Điều này có nghĩa là tỷ trọng nam giới hoạt động đầu tư trên thị trường tài chính càng cao thì mức độ thất bại trong các hoạt động đầu tư càng lớn. 
Thứ tư, tâm lý thiếu ổn định
Như trong đặc điểm thì nhìn chung các NĐT Việt có tâm trạng lạc quan thái quá và với tâm trạng này thì xu hướng là NĐT ra các quyết định đầu tư thường ít cẩn thận. Đối ngược với tâm trạng lạc quan thái quá là tâm trạng bi quan thái quá - đây là tâm trạng “xấu” và với tâm trạng này thì nhìn chung, NĐT thường quá cẩn thận trong các quyết định đầu tư của mình, tâm trạng này cũng tác động đến sự trì trệ kéo dài của một số phân khúc thị trường tài chính Việt Nam thời gian qua.
3. Ảnh hưởng tâm lý NĐT tới sự ổn định của thị trường tài chính Việt Nam
3.1. Ảnh hưởng đến thị trường tín dụng ngân hàng
a) Ảnh hưởng đến huy động vốn
Do nền tảng tài chính thấp, các công cụ huy động vốn truyền thống khá đơn điệu, trong khi tâm lý những người gửi tiền còn khá “bất an” do rủi ro tiềm ẩn trong hệ thống ngân hàng còn khá cao, hơn nữa, LS vẫn chưa thực sự hấp dẫn người gửi tiền do chưa đủ bù đắp được những rủi ro tiềm ẩn, thanh khoản của một số NHTM vẫn còn rất yếu… nên khả năng bất ổn của tiền gửi vẫn còn cao, từ đó, khả năng kích hoạt các cuộc chạy đua nâng LS huy động vốn trong hệ thống NH vẫn có thể xảy ra. 
Trong thời gian qua, Việt Nam đã trải qua một số cuộc chạy đua nâng LS huy động vốn. 
Cuộc chạy đua LS lần 1: Đầu năm 2008, các NHTM Việt Nam đã phải trải qua những thời điểm khó khăn về thanh khoản bởi khách hàng rút tiền khỏi những NH có LS thấp và gửi ở ngân hàng có LS cao. Chỉ trong vài ngày, có những NH đã đẩy LS huy động tiền gửi từ 15%/năm lên 19%/năm, LS cho vay được đẩy lên tới 21%/năm ở nhiều NHTM. 
Cuộc chạy đua tăng LS lần 2: Đầu năm 2009, LS huy động của các NHTM tăng nhẹ, nguyên nhân là bởi các NHTM dự báo nhu cầu vốn của các doanh nghiệp sẽ tăng mạnh trong năm 2009 và các NHTM phải chuẩn bị nguồn vốn đáp ứng các nhu cầu này, chính vì thế, một cuộc chạy đua nâng lãi suất tại tất cả các NHTM được triển khai với hầu hết các kỳ hạn, từ kỳ hạn theo tuần đến kỳ hạn 36 tháng. Do nhu cầu hấp thụ vốn trong nền kinh tế tăng cao nên làn sóng đua tăng LS huy động VND ở các NHTM vẫn tiếp tục khiến LS huy động VND tiến sát mức trần cho vay. 
Cuộc chạy đua nâng LS lần 3: Đầu tháng 11 năm 2010, LS huy động vốn bằng VND của các NHTM đồng loạt tăng mạnh. Đến giữa tháng 11/2010, các mức LS liên tục bị phá vỡ, biểu LS của NHTM nhích từng ngày, kèm theo các hình thức khuyến mãi như quà tặng, tiền thưởng, thưởng LS, quay số trúng thưởng… để tăng sức cạnh tranh và giữ chân khách hàng đang có quan hệ giao dịch với NH cũng như thu hút khách hàng mới. 
Cuộc chạy đua nâng LS lần 4: Trong giai đoạn từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2011, do áp lực thanh khoản căng thẳng, buộc các NHTM phải tiếp tục nâng LS huy động VND khiến mức LS huy động bằng VND ở mức tăng cao vào cuối năm 2010. 
    Thực tế trên cho thấy, các cuộc chạy đua nâng LS huy động vốn thuộc nội bộ hệ thống NH, song, chủ yếu nó có nguyên nhân từ tâm lý khách hàng gửi tiền. Về nguyên lý thì LS huy động vốn cao hay thấp phải tùy thuộc vào xếp hạng tín nhiệm của NHTM: NHTM được xếp hạng tín nhiệm càng cao thì LS huy động vốn càng thấp và ngược lại. Tuy vậy, tại Việt Nam hiện nay, công tác xếp hạng tín nhiệm các TCTD chưa được phổ biến rộng rãi, nên những năm qua, về cơ bản, các NHTM vẫn phải tuân thủ LS do NHNN quy định. Do vậy, người gửi tiền sẽ có xu hướng: 
(i) Rút ngắn kỳ hạn gửi tiền để tự phòng vệ rủi ro; 
(ii) tìm kiếm các NHTM có mức LS huy động cao hơn để tăng thu nhập từ các khoản tiền gửi; 
(iii) kỳ vọng NHNN luôn đứng ra bảo lãnh cho các khoản tiền gửi của mình được an toàn thông qua các cam kết không cho NH sụp đổ. Sự cạnh tranh quyết liệt trong huy động vốn trong hệ thống NHTM Việt Nam ở những thời điểm trong những năm qua đã tác động bất lợi đến hệ thống NH, các doanh nghiệp và nền kinh tế, bởi khi đã nâng LS huy động thì LS cho vay cũng sẽ phải tăng, từ đó, làm mất tác dụng của đòn bẩy LS đối với nền kinh tế.
b) Ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của các NH
Với một nước mà tích lũy nội bộ chưa cao, thâm hụt ngân sách còn cao, trong khi nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển cao nhằm đáp ứng cho các nhu cầu tăng trưởng kinh tế đầy tham vọng, thì vốn tín dụng vẫn là nguồn chính nhằm tài trợ cho các hoạt động đầu tư và tiêu dùng trong nền kinh tế. Có thể nhận thấy thực trạng này trong giai đoạn trước năm 2011 khi mà tăng trưởng tín dụng luôn xấp xỉ 30%, bởi thực tế là cả nền kinh tế hầu như chỉ “nhìn” vào vốn vay từ các TCTD. Không những thế, trong các giai đoạn nền kinh tế quốc tế phải đối mặt với các cú sốc tài chính, chẳng hạn các năm 2007-2009 và sau đó là khủng hoảng nợ công ở EU từ tháng 5/2009 và kéo dài cho tới nay vẫn chưa có hồi kết, thì thị trường tài chính Việt Nam liên tục phải đối mặt với các cú sốc đầu cơ trên thị trường bất động sản, vàng, ngoại tệ và nguồn vốn cho các hoạt động đầu cơ này cũng chủ yếu đi vay từ các TCTD, nó lại càng khiến cho tín dụng ngân hàng tăng trưởng nóng. Với các biện pháp thắt chặt quản lý thị trường của các nhà quản lý, nhất là của các nhà chức trách tiền tệ, thì các hành vi đầu cơ trục lợi bị triệt tiêu từng bước. Có thể nhận thấy rất rõ mối tương tác giữa tăng trưởng tín dụng với sự biến động của thị trường những năm qua. Rõ ràng là tâm lý NĐT trên thị trường tài chính Việt Nam đã khiến cho thị trường diễn biến rất phức tạp, khi thì quá nóng, lúc thì quá lạnh. Sự nóng lạnh thất thường của thị trường tài chính do tác động tâm lý NĐT khiến cho môi trường tín dụng của Việt Nam dễ biến động và khó kiểm soát. Có thể nhận thấy rất rõ thực trạng này thông qua diễn biến nợ xấu của hệ thống NH Việt Nam: từ diễn biến của cơ cấu nợ xấu ở một số NH cho thấy tỷ trọng nợ xấu có liên quan đến bất động sản luôn khá cao và xử lý luôn rất khó khăn do thị trường bất động sản phục hồi quá chậm do các NĐT hiện vẫn rất thiếu niềm tin vào sự phát triển ổn định lành mạnh của thị trường này. 
3.2. Ảnh hưởng đến thị trường ngoại hối
Các NĐT trên thị trường ngoại hối Việt Nam luôn có tâm lý “giữ chặt” và đôi khi chịu sự chi phối bởi tâm lý “lệch lạc do tình huống điển hình”, dẫn đến đa số các NĐT, nhất là các NĐT tổ chức (chủ yếu là các nhà xuất nhập khẩu…) thường muốn găm giữ ngoại tệ. Nguyên nhân chính để giải thích tình trạng đầu cơ găm giữ ngoại tệ của các NĐT tại Việt Nam những năm qua là do khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu tác động. Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu đã găm giữ ngoại tệ vì lo sợ sự biến động của tỷ giá quá lớn làm cho các NH không có nguồn cung ngoại tệ để đủ điều hòa cho nền kinh tế gây ra tình trạng căng thẳng cho thị trường ngoại hối. Không chỉ vậy, giới đầu cơ có lúc còn đưa ra các tin đồn thất thiệt nhằm kiếm lời trên sự biến động tỷ giá mạnh tại thị trường phi chính thức - thị trường mua bán ngoại tệ tự do. Thực tế cũng cho thấy tâm lý găm giữ ngoại tệ có tác động không tốt đến thị trường ngoại hối đã được giảm bớt nhờ vào những hiệu ứng tích cực từ điều chỉnh tỷ giá. Nói một cách khác, tâm lý găm giữ ngoại tệ là một hiện tượng thúc đẩy những đổi mới cho CSTT của Việt Nam.
Bên cạnh tâm lý găm giữ ngoại tệ, thì các tâm lý khác đồng thời tác động đến hành vi của các NĐT khi kinh doanh ngoại tệ, đó là: Các NHTM nhỏ thường căn cứ vào hành động của các NH lớn hơn để điều chỉnh tỷ giá mua vào và bán ra, tâm lý này khá phổ biến và có thể gọi là tâm lý hành động theo người dẫn đường (một biểu hiện của Tâm lý giữ chặt - Anchoring). Xét trên góc độ các cá nhân kinh doanh ngoại hối, khi áp dụng phân tích kỹ thuật, họ thường quá tự tin vào khả năng nhận dạng xu thế sẽ tiếp tục xảy ra - xu thế củng cố hoặc đảo chiều. Đối với thị trường tiền tệ Việt Nam, nhiều nhà đầu cơ tiền tệ cho rằng nên căn cứ vào biến động dài hạn trong khi các NĐT lại quá tin vào những sự biến động ngắn hạn. Ngoài ra, tâm lý của các NĐT trong nước thường có xu hướng tách bạch giữa hai loại tài khoản lãi và lỗ. Khi tỷ giá tăng và cảm thấy có lời, họ sẽ chấp nhận bán ngay để thu lợi nhuận trong khi nếu lỗ thì xu hướng chung họ vẫn nắm giữ với kỳ vọng là tỷ giá sẽ tăng trở lại. 

3.3. Ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam được đánh giá là thị trường của các NĐT nhỏ lẻ hành động theo tâm lý đám đông, trong đó, các NĐT trong nước chỉ biết nhận thông tin thổi phồng, thiếu những tìm hiểu bề sâu của những thông tin công bố hoặc tham khảo ý kiến chuyên gia trong và ngoài nước. Vì vậy, họ tham gia thị trường với độ rủi ro cao, và chỉ thấy được tầm nhìn ngắn hạn. Ngược lại, những NĐT ngoại có cả những nghiệp vụ và kinh nghiệm họ nhận thấy những biến động tất yếu của thị trường, đến khi nhận ra thời điểm nguy hiểm, sự nóng lên của thị trường và lặng lẽ bán dần không gây ra tín hiệu tháo chạy trên thị trường. Trong khi đó, NĐT nước ngoài luôn giữ một động thái độc lập và tách rời khỏi tâm lý đám đông. Trong những đợt thị trường sụt giảm mạnh như trong giai đoạn 2009-2010 và hầu như không có dấu hiệu gì là đảo chiều, không khí ảm đạm lộ rõ ở các NĐT trong nước, thì NĐT nước ngoài vẫn chiếm khối lượng giao dịch khá cao (khoảng 20% toàn thị trường). Họ nắm giữ những cổ phiếu ở mức giá khác nhau, mua vào - bán ra theo kiểu cuốn chiếu, tạo thành một động thái có thể dẫn dắt thị trường. Còn NĐT trong nước lại kém nhạy bén trước những thông tin thị trường. Mặt khác, các thông tin này hiện được đánh giá là chưa đầy đủ, và nhiều “tin đồn” làm ảnh hưởng tới tâm lý NĐT, gây ra sự hoang mang và chạy theo đám đông như quan sát ở một vài thời kỳ. 

Việc mua - bán của NĐT nước ngoài ít nhiều ảnh hưởng đến tâm lý NĐT trong nước và xu hướng này đang ngày càng mạnh hơn trong những năm gần đây. NĐT trong nước bắt đầu chú trọng vào các động thái mua bán của NĐT nước ngoài và chạy theo xu hướng đó. Trong khi nguồn vốn NĐT nước ngoài đang có xu hướng tăng tại thị trường Việt Nam và nó sẽ ngày càng chi phối TTCK thông qua các kênh đầu tư vốn. Đây cũng thuộc một dạng chạy theo đám đông những NĐT chuyên nghiệp của NĐT trong nước. Ngoài ra, các NĐT nước ngoài chia làm 2 nhóm: 
+ Một nhóm tập trung vào các chiến lược đầu tư trung và dài hạn dựa trên danh mục đầu tư rõ ràng, 
+ Một nhóm chỉ tập trung đầu tư ngắn hạn. 
Một điều đáng lo ngại là sự tăng lên về số lượng của nhóm hai và có vai trò dẫn dắt thị trường Việt Nam, tham gia vào lũng đoạn thị trường và làm giá trong từng thời điểm của thị trường và họ lại là người nắm giữ lượng lớn cổ phiếu ở các mức giá khác nhau. Với phương thức mua bán cuốn chiếu ở từng mức giá, họ có thể dẫn dắt thị trường và làm náo loạn thị trường. Đến khi NĐT trong nước có thể biết được có khối lượng bán ra làm giá cổ phiếu sụt giảm thì đã muộn và rơi vào tình trạng bán tháo với mức giá rẻ ra thị trường. Điều đó cho thấy NĐT trong nước vẫn còn thiếu nhạy bén, phản ứng và xử lý thông tin và luôn bị đặt trong tình trạng bị động và dễ rơi vào chiếc bẫy chi phối của NĐT nước ngoài.

Phần lớn các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp là những tổ chức do người nước ngoài thành lập tại Việt Nam. Con số và quy mô của các tổ chức này tuy còn nhỏ, nhưng đang phát triển khá nhanh và họ hoạt động với một sự lạc quan có chừng mực. Vì vậy, nếu NĐT trong nước thiếu những cái nhìn tỉnh táo hơn về thị trường thì sẽ ảo tưởng theo các thông tin đưa ra và tạo thành một tâm lý phong trào, thị trường đã liên tục bị đẩy bởi những cơn sóng nối tiếp nhau. Tất cả các vấn đề nêu trên cho thấy cần có biện pháp để hạn chế phụ thuộc vào những NĐT nước ngoài, nếu không, TTCK sẽ là một canh bạc mà những nhân tố chính là những NĐT nước ngoài. Những biến động phức tạp khó lường của TTCK nước ta những năm qua một phần cũng do ảnh hưởng của thị trường này, nhưng mặt khác, một thực tế là do sự liên thông giữa TTCK và thị trường tiền tệ cũng đã và đang tiếp tục ảnh hưởng đến hiệu lực của CSTT. 

2. Một số khuyến nghị chính sách 

    Từ những phân tích về đặc điểm tâm lý NĐT tác động tới thị trường tài chính tại Việt Nam những năm qua cho thấy một trong những nguyên nhân của sự biến động của thị trường tài chính Việt Nam những năm qua là do tâm lý NĐT và chính đặc điểm tâm lý NĐT trên thị trường tài chính. Điều này đã và đang đặt ra những yêu cầu cấp thiết phải tìm các biện pháp nhằm quản lý và giảm thiểu các tác động tiêu cực của tâm lý NĐT tới các chính sách kinh tế vĩ mô nói chung, trong đó đặc biệt đối với chính sách tài chính. 

Bài viết này xin đưa ra một số khuyến nghị chính sách dưới đây:

Thứ nhất, hoàn thiện hành lang pháp lý về lĩnh vực tài chính, bảo đảm sự nhất trí giữa các quy định pháp luật về tài chính với các quy định khác có liên quan

Trong kinh tế thị trường, pháp luật là khâu trọng yếu bởi qua đó, giúp Nhà nước kiểm soát các hoạt động kinh tế xã hội theo đúng trật tự được kỳ vọng. Đối với lĩnh vực tài chính, hành lang pháp lý càng có vai trò quan trọng đặc biệt, bởi đây là lĩnh vực kinh tế có mức độ rủi ro tiềm ẩn rất cao, trong khi đó đây lại cũng là khu vực yết hầu của nền kinh tế xã hội, cho nên đòi hỏi hành lang pháp luật phải đồng bộ và hoàn thiện, điều này không chỉ giúp hoạt động của hệ thống tài chính quốc gia đi đúng hướng, từ đó, thúc đẩy thực hiện tốt các mục tiêu kinh tế xã hội mà Chính phủ hoạch định, mà nó còn giúp giảm thiểu những rủi ro vốn luôn tiềm ẩn trong hệ thống tài chính. Tuy vậy, do bản thân hệ thống tài chính có phạm vi ảnh hưởng rất rộng, liên quan đến tất cả các hoạt động kinh tế - xã hội nên việc hoàn thiện hành lang pháp lý đối với lĩnh vực hoạt động này là vô cùng khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải được xử lý một cách bài bản, khẩn trương, có định hướng và theo trật tự ưu tiên. Xét về nguyên lý thì do lĩnh vực tài chính có tầm quan trọng đặc biệt, có phạm vi ảnh hưởng rất rộng khắp nên cần phải được ưu tiên, trong khi các hệ thống pháp luật khác có các điều khoản liên quan đến tài chính thì phải tuân thủ các quy định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành tài chính. Muốn như vậy, các điều khoản trong các văn bản pháp luật về tài chính phải có sự chuẩn mực nhất định, trên cơ sở đó, tiến hành rà soát lại các điều khoản có liên quan trong hệ thống các văn bản luật khác, bảo đảm có sự nhất trí để không cản trở, thậm chí làm mất hiệu lực các quy định pháp luật về tài chính. Trong bối cảnh hội nhập sâu về tài chính NH, các hoạt động tài chính xuyên biên giới, thì các quy định pháp luật về tài chính tiền tệ cũng cần có tầm nhìn xa, bảo đảm rằng các quy định pháp lý về lĩnh vực này không bị sửa đổi thường xuyên, bởi chính việc phải thường xuyên điều chỉnh, sửa đổi các điều luật về tài chính tiền tệ cũng đã làm suy giảm hiệu lực của hệ thống pháp luật này.

Thứ hai, tiếp tục tăng cường hơn nữa các thông điệp chính sách

    Chính phủ cần sử dụng một cách đồng bộ và hiệu quả các thông điệp chính sách cho NĐT và xã hội thông qua việc thiết kế một khuôn khổ các giải pháp để xây dựng các nội dung thông điệp, chia sẻ và theo dõi các phản ứng về các thông điệp chính sách mà Chính phủ đưa ra. Điều này đòi hỏi Chính phủ cần có một đội ngũ chuyên gia chuyên nghiệp trong lĩnh vực tài chính tiền tệ để có thể vận hành tốt khuôn khổ này. 

    Cần hình thành các kênh liên lạc khác nhau để Chính phủ có thể nắm bắt được tâm lý NĐT tại các thời điểm khác nhau, để nghe phản ứng của họ về hoạt động điều hành chính sách tài chính của Chính phủ; tiến hành thường xuyên các cuộc điều tra, khảo sát để có thể thu thập và phản ánh kịp thời sự thay đổi trong tâm lý của NĐT và các đối tượng khác trước những chính sách tài chính tiền tệ được thực thi. 

    Bên cạnh đó, Chính phủ có sự công khai kịp thời, minh bạch hơn về thông tin kinh tế xã hội, đặc biệt là hệ thống thông tin tài chính tiền tệ. Các thông tin trên website của Chính phủ còn thiếu các thông tin cần thiết mang tính thông điệp chính sách của cơ quan quản lý để các NĐT có thể tham khảo. Thông qua việc công khai này, các NĐT hoặc công chúng quan tâm có thể hiểu rõ cách tiếp cận, phân tích và quan điểm của các nhà điều hành chính sách về điều kiện kinh tế tài chính trong nước, thị trường tài chính thế giới và việc xem xét các chính sách kinh tế tài chính trong nước, từ đó đưa ra quyết định dựa trên những dự báo chính sách của Chính phủ trong tương lai. 

Thứ ba, tăng cường công tác giám sát thị trường nhằm nhận diện các xu hướng tâm lý đám đông diễn biến phức tạp có nguy cơ gây ra các diễn biến xấu trên thị trường tài chính

    Những năm qua, Chính phủ thường xuyên chú trọng công tác giám sát thị trường và đã kịp thời nhận diện các xu hướng đầu cơ thao túng trên các thị trường chứng khoán, vàng, ngoại tệ, bất động sản … và đã đưa ra các biện pháp đối trọng thậm chí thông qua các biện pháp hành chính mạnh tay nhằm xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, tuy vậy, những diễn biến trên thị trường tài chính luôn rất phức tạp, khó lường xuất phát từ tính chất đa dạng trong tâm lý các NĐT, đặc biệt từ các NĐT có tổ chức quốc tế gắn với các phương tiện và công cụ đầu tư mới, dẫn đến có không ít các diễn biến trên thị trường tài chính các nhà chức trách đã chưa nhận diện kịp thời và bị động trong ứng phó. Sự bị động ít nhiều cũng khiến các hoạt động can thiệp gây sốc cho thị trường cũng như phí tổn can thiệp gia tăng. Từ thực tế này, chúng tôi đề xuất thời gian tới Chính phủ tiếp tục tăng cường hơn nữa công tác giám sát thị trường tài chính gắn với nâng cao trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ giám sát và hiện đại hóa hạ tầng kỹ thuật công nghệ, nhất là ứng dụng các phần mềm quản lý thị trường, qua đó, góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng của công tác dự báo. Trong điều kiện thị trường tài chính có sự hội nhập rất sâu như hiện nay gắn với cuộc cách mạng công nghệ thông tin thì các rào cản kỹ thuật sẽ bị suy giảm, thậm chí bị mất tác dụng kiểm soát thị trường, do vậy, các dự báo sẽ là cơ sở tốt cho các nhà chức trách ra các quyết định kịp thời, đúng liều lượng và không gây sốc cho thị trường thông qua kỹ thuật can thiệp hợp lý.

Thứ tư, tăng cường năng lực ứng phó với các diễn biến thị trường

Gắn với hội nhập tài chính thì các nguy cơ gây bất ổn thị trường luôn thường trực, hơn nữa, từ các cuộc khủng hoảng tài chính những năm qua cho thấy rằng các cú sốc tài chính quốc tế có xu hướng ngày càng “đậm đặc” hơn bởi các hoạt động đầu tư “gây nhiễu thị trường” nhằm trục lợi của các NĐT tổ chức có tầm cỡ quốc tế. Các cú sốc gần đây thậm chí đã gây ra những thiệt hại rất lớn về tài chính lẫn uy tín quốc gia. Các quốc gia càng yếu kém trong việc nhận diện các xu hướng đầu cơ thao túng quốc tế thì những thiệt hại càng lớn do can thiệp thiếu kịp thời và không đúng cách, thiếu sự hỗ trợ của quốc tế. Từ thực tế này, chúng tôi đưa ra đề xuất Chính phủ cần nâng cao năng lực ứng phó với các diễn biến tâm lý NĐT trên thị trường tài chính thông qua: 
(i) Tăng cường sự phối kết hợp với các định chế tài chính quốc tế trong dự báo cũng như can thiệp thị trường tài chính. Một sự phối kết hợp hiệu quả giữa thị trường tài chính trong nước và quốc tế sẽ giúp ngăn chặn tốt hơn các diễn biến đầu cơ quốc tế; 
(ii) hoàn thiện hành lang pháp lý gắn với bổ sung, hoàn thiện các kỹ thuật can thiệp thị trường nhằm can thiệp đúng thời điểm, đúng liều lượng, trên nền tảng pháp luật mạnh; 
(iii) tăng cường thực lực tài chính để sẵn sàng can thiệp với những liều lượng đủ mạnh để đối trọng với các hoạt động đầu cơ thao túng thị trường nhất là đến từ những nhà đầu tư tổ chức quốc tế.

Thứ năm, xem xét từng bước thực hiện tự do hóa tài khoản vốn vào thời điểm thích hợp

Vấn đề tự do hóa tài khoản vãng lai và tài khoản vốn của Việt Nam đã được đặt ra một số năm trước đây, tuy vậy, đã có khá nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này bởi gắn với việc tự do hóa tài khoản vốn sẽ dễ gây ra các hệ quả không mong đợi cả về kinh tế xã hội. Tuy vậy, việc tự do hóa tài khoản vốn là một yêu cầu tất yếu gắn với hội nhập kinh tế quốc tế. Xuất phát từ đó, chúng tôi cho rằng việc xây dựng lộ trình tự do tài khoản vốn của Việt Nam cần được cân nhắc trên cơ sở xem xét các rủi ro riêng lẻ và rủi ro tài chính mang tính hệ thống, song song với việc nâng cao năng lực thể chế và của nền kinh tế nhằm ứng phó với các rủi ro này. Một khuôn khổ giám sát và luật lệ được thiết kế tốt và thực thi có hiệu quả sẽ giúp giảm một phần những sai lệch về cơ cấu đồng tiền và sai lệch về thời hạn, nhưng những sai lệch này chỉ có thể giảm đáng kể khi có một thị trường trái phiếu dài hạn trong nước hoạt động tốt và các công cụ bảo hiểm rủi ro cấp cao phát triển hoàn chỉnh.
    Tiếp tục phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ dài hạn gắn với phát triển thị trường trái phiếu công ty, điều này sẽ giúp làm giảm các sai lệch thời hạn và sai lệch cơ cấu đồng tiền. Song, việc phát triển các thị trường này chỉ khả thi một khi khung pháp lý cho sự vận hành các loại thị trường trên đây được hoàn thiện, cả về các điều luật lẫn tính khả thi của chúng. Cũng cần lưu ý là để các thị trường trái phiếu Chính phủ và trái phiếu công ty phát triển thì LS phải được tự do hóa và chính sự phát triển của thị trường trái phiếu Chính phủ cũng là nền tảng quan trọng để chúng ta có thể xây dựng được đường cong lãi suất chuẩn, cơ sở để tự do hóa LS.

1. Với loại tâm lý này, NĐT thường tự tin quá mức vào tầm hiểu biết, kinh nghiệm của bản thân và ít chú ý đến việc đa dạng hóa danh mục đầu tư để hạn chế rủi ro.
2. Với tâm lý hối tiếc, con người có xu hướng cảm thấy nỗi đau hay sự đe dọa từ hối tiếc khi làm sai một việc gì đó. Do đó, để tránh phải những thất bại gây ra hối tiếc, con người có xu hướng thay đổi hành vi của mình nhưng điều này đôi khi có thể dẫn đến những kết quả không hợp lý.
3. Hành vi bầy đàn là thuật ngữ dùng để chỉ sự điều chỉnh tương thích với một phương thức thực hiện và được thể hiện như là “một sự tương đồng trong hành vi theo sau các quan sát tương tác” về hành động và kết quả phát sinh từ những hành động này giữa các cá nhân.
4. Cần lưu ý là tâm lý đám đông tại Việt Nam thường chủ yếu dựa trên các thông tin phi chính thống, điều này có nguyên nhân bởi hệ thống thông tin chính thống của Việt Nam còn khá nhiều bất cập.
5. Thuyết này cho rằng con người bị thúc đẩy mạnh nhằm tránh sự mất mát hơn là tìm kiếm lợi nhuận. Xu hướng sợ hãi mất mát đôi khi làm cho con người không thể loại bỏ đi những tài sản tài chính không mang lại lợi nhuận ngay cả khi họ nhận thấy rằng không có kỳ vọng gì về mức sinh lợi trong tương lai.
6. Chẳng hạn, chính sách thuế thu nhập cá nhân là nhằm đánh vào tất cả các khoản thu nhập của các cá nhân song nếu như việc thực thi chính sách này lại chủ yếu hướng vào những người có thu nhập trung bình hoặc thấp trong khi những người có thu nhập cao lại ít bị chi phối thì chính điều này đã làm mất hiệu lực của chính sách thuế thu nhập cá nhân bởi khi đó những người có thu nhập trung bình hoặc thấp sẽ cố tình trốn tránh thuế, chây ì nộp thuế - một thái độ phản ứng chính sách.
7. Thuyết này cho rằng các kinh nghiệm, hay quy tắc học được thường giúp NĐT ra quyết định nhanh chóng và dễ dàng hơn.
8. Các nghiên cứu chỉ ra rằng trình độ học vấn càng cao thì quy mô đầu tư trong mỗi lần giao dịch càng lớn, đồng thời, tỷ lệ sinh lời trong hoạt động đầu tư cũng càng cao. 
9. Nghiên cứu cho thấy rằng độ tuổi càng cao thì hiệu ứng phân bổ tài khoản đầu tư càng yếu đồng thời, xu hướng họ cũng nắm giữ các danh mục đầu tư tài chính ít tập trung hơn.

1. KHÔNG NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG TRƯỚC KHI ĐẦU TƯ

Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến thất bại của hầu hết các nhà đầu tư. Đầu tư chứng khoán dựa vào phán đoán, cảm giác, giác quan thứ 6... có lẽ sẽ có 1 vài lần "trúng thưởng". Thế nhưng với thị trường biến động như chứng khoán thì mọi điều rủi ro đều có thể đến với nhà đầu tư. Và khi không phân tích tìm hiểu kỹ thị trường, họ rất có thể đưa ra những quyết định sai lầm.Nếu quyết định đầu tư, bạn nên dành thời gian để đọc và phân tích các bản báo cáo tài chính của doanh nghiệp, đọc tín hiệu thị trường thông qua bảng đồ thị điển tử để tìm kiếm các cơ hội đầu tư sinh lời tiềm năng nhất.
2. KHÔNG HỌC HỎI, THAM KHẢO KINH NGHIỆM ĐẦU TƯ TỪ CÁC CHUYÊN GIA

Chuyên gia chứng khoán chính là những người có kinh nghiệm thực chiến, luôn bám sát mọi biến động của thị trường và là những người cho bạn những định hướng đúng đắn về thị trường.
Người Việt Nam ta đã có câu "Không thầy đố mày làm nên". Thị trường chứng khoán cũng không ngoại lệ, nếu bạn thiếu 1 người thầy giỏi, thì bạn rất dễ bị thị trường thao túng dẫn đến những sai lầm đáng tiếc.
3. KHÔNG CHỊU CẮT LỖ

Cương quyết giữ lại cổ phiếu chịu lỗ. Nhiều nhà đầu tư không muốn chịu lỗ, họ chờ đợi và hy vọng cho đến khi số lỗ này càng lớn cho đến khi không còn giá trị nữa.
Đây là sai làm nhiều nhà đầu tư phạm phải nhất. Theo O'Nel thì ông luôn cắt lỗ ở thời điểm lỗ do cổ phiếu giảm 7% hoặc 8%. Bằng cách tuân theo nguyên tắc này sẽ đảm bảo vượt qua thời điểm khó khăn để tiếp tục đầu tư huy động vốn.
Vì thế, nhà đầu tư đừng nên duy trì giữ cổ phiếu lỗ với tâm lý "sau cơn mưa trời lại sáng". Tình trạng giảm giá cổ phiếu tạm thời xuất hiện ở rất nhiều công ty, thế nhưng cũng không có ít công ty thua lỗ đến mức phá sản.
Tư duy không cắt lỗ, chờ đợi tăng giá sẽ khiến cho bạn rơi vào trạng thái thụ động trong việc ra quyết định và rơi vào bẫy tài chính. 
Nhà đầu tư nên tự đặt ra những nguyên tắc cắt lỗ - chốt lời trong đầu tư và nghiêm túc thực hiện theo các quy định đã đề ra.
4. MUA CỔ PHIẾU KHI KHÔNG BIẾT GIÁ CỔ PHIẾU ĐÃ DỪNG GIẢM HAY CHƯA

Các nhà đầu tư mới thường có tâm lý tham gia bắt đắt. Điều này sẽ giúp các nhà đầu tư kiếm được một khoản lợi nhuận lớn nếu thị trường tăng giá trở lại, và ngược lại nếu giá cổ phiếu tiếp tục xuống dốc sẽ khiến nhà đầu tư gặp phải thất bại rồi rơi vào trạng thái bị động bị buộc phải bán tháo hoặc ôm cổ phiếu để đợi thị trường tăng giá lại.
Bởi vậy lợi khuyên cho các nhà đầu tư là đừng cố gắng tham gia bắt đáy khi mà bạn chưa xác định được cổ phiếu đã tiếp đáy hay chưa. 
Nhà đầu tư hãy luôn giữ bình tĩnh để có những phân tích thị trường và quyết định sáng suốt nhất.
5. KHÔNG TIN VÀO NHỮNG CỔ PHIẾU ĐÃ TĂNG NHIỀU RỒI

Đa phần các nhà đầu tư hay chọn mua lượng lớn cổ phiếu giá thấp thay vì mua hoặc giữ cổ phiếu giá cao với số lượng ít hơn.
Khi bắt đầu mua cổ phiếu của Coca - cola, tỷ phú chứng khoán Warren Buffet mua với giá $41.81/ cổ phiếu, sau đó giá cổ phiếu này liên tục tăng. Những người từng cùng mua cổ phiếu của Coca thời điểm 1988 với Warren Buffet đều bán ra hết thị trường vị họ nghĩ rằng mã cổ phiếu này sẽ không thể tăng nữa. Thế nhưng họ đã nhầm, Buffet vẫn quyết định nắm giữ 400 triệu cổ phiếu Coca-Cola và đã thu về được 16 tỷ USD ở thời điểm hiện tại.
    Góc độ khác, nhiều nhà đầu tư sẽ quyết định đầu tư vào những cổ phiếu có giá trị thấp hay còn gọi là rẻ vì nhiều lý do khác nhau. Tuy nhiên, các cổ phiếu này hoặc là hoạt động kém cỏi trong quá khứ, hai là hiện nay đang gặp phải vấn đề gì đó.
Tiền nào của nấy, cổ phiếu tốt nhất không bao giờ được bán với giá rẻ nhất. 
    Đó chính là lý do những nhà đầu tư chuyên nghiệp và các quỹ đầu tư thường không đầu tư vào các cổ phiếu có giá thấp, vì vậy khi bạn mua cổ phiếu giá cao thì sẽ có cơ hội tăng nhanh và bứt phá khi các quỹ đầu tư mua vào.
    Để tránh khỏi tâm lý bị tác động từ ham muốn chốt lời, hay mong muốn lời nhiều nhà đầu tư cần nỗ lực tìm kiếm danh mục đầu tư của những công ty có tiềm năng phát triển vượt trội so với thị trường.     Bởi vì, thực chất giá cổ phiếu phản ánh khả năng kinh doanh của công ty, nhà đầu tư sẽ được gia tăng lợi nhuận khi doanh nghiệp đó làm ăn thuận lợi.
6. ĐẦU TƯ THEO CẢM TÍNH
    Quyết định theo cảm tính là nguyên nhân dẫn đến thất bại của con người ở tất cả mọi lĩnh vực. Trong chứng khoán, mua cổ phiếu theo cảm tính mặc dù biết những biết rõ tin xấu về doanh nghiệp là sai lầm không hề hiếm gặp ở nhiều nhà đầu tư.
Bạn cần biết có rất nhiều cơ hội đầu tư khác trên thị trường, hãy dành thời gian nghiên cứu và phân tích để phát hiện ra các cổ phiếu tiềm năng hơn.
7. MUA CỔ PHIẾU THEO PHONG TRÀO
“Nghe nói cổ phiếu A tốt đấy, mua đi” - Nghe một người có nhiều năm đầu tư trên thị trường hay nguồn tin từ báo đài, cảm thấy đủ tin tưởng và quyết định đầu tư cũng là một trong những sai lầm thường gặp. Tiền đem đi đầu tư đa phần là tiền mồ hôi, công sức tích cóp rất lâu mới có được vì vậy bạn không nên mạo hiểm đầu tư chỉ vì nghe những lời đồn thổi hay những nhận định của cá nhân nào đó trên phương tiện truyền thông. Thay vào đó hãy thu thập tài liệu có độ tin cậy cao về công ty A và cân nhắc xem cổ phiếu của công ty đó có thực sự đáng để bạn đầu tư hay không.
8. MUA BÌNH QUÂN GIÁ GIẢM THAY VÌ GIÁ TĂNG
Bạn quyết định mua cổ phiếu ở giá 50.000 đồng, sau đó lại mua thêm cổ phiếu giảm bình quân ở mức giá 40.000 đồng45.000 đồng. Vậy bạn có chắc rằng giá sẽ chỉ nằm ở khoảng giảm này và nếu tiếp tục giảm bạn có đủ tiền để mua tiếp?

Mua bình quân giá giảm thực sự là một chiến lược đầu tư nguy hiểm mà nhà đầu tư cần tránh, nó sẽ làm bạn đã thua lỗ ở hiện tại và mức lỗ có thể còn nghiêm trọng hơn khi cổ phiếu giảm sâu.
9. KHÔNG SỬ DỤNG BIỂU ĐỒ PHÂN TÍCH
Không sử dụng biểu đồ phân tích là sai lầm khi đầu tư chứng khoán
Thời điểm hoàn hảo nhất để bạn mua một cổ phiếu là khi giá cổ phiếu có dấu hiệu đột phá từ một nền tảng giá ổn định tối thiểu trong khoảng 7 -8 tuần. Thế nhưng để xác định được điểm đột phá đó, nhà đầu tư cần phải biết sử dụng biểu đồ phân tích chứng khoán.
Biểu đồ sẽ cung cấp cho bạn các điểm giá tăng - giảm và khối lượng giao dịch của cổ phiếu theo từng thời kỳ. Từ đó chúng ta nắm bắt được xu hướng vận động của thị trường và để tránh mua phải những loại cổ phiếu “rởm”.

10. MONG MUỐN LỢI NHUẬN NHANH VÀ DỄ
Đầu tư chứng khoán cũng giống như một cuộc đấu cân não đòi hỏi người chơi phải có ít nhiều kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm. Thế nên việc chỉ chăm chăm kiếm lời thật nhanh chóng và dễ dàng trên thị trường chứng khoán sẽ ảnh hưởng đến các quyết định mua – bán của bạn từ đó khiến bạn không giữ được tâm lý bình tĩnh. 
Khi đạt được một số thắng lợi, nhà đầu tư thường có xu hướng mong muốn kiếm lợi nhuận nhanh và dễ hơn nữa. Thế nhưng quá tham lam sẽ khiến các nhà đầu tư gặp phải sai lầm đáng tiếc như vội vàng mua giá ở vùng cao và không kịp bán đi khi thị trường sụt giảm sâu...
Bởi vậy, để đạt được lợi nhuận bền vững khi chơi chứng khoán, nhà đầu tư cần chuẩn bị những kiến thức và kỹ năng cần thiết, đặc biệt là tính kỷ luật kiểm soát bản thân trước khi tiếp cận thị trường.
Thị trường đang giằng co khá mạnh, tuy nhiên lực cầu gom cổ phiếu hạ giá vẫn không thắng nổi nguồn cung ào ạt. Càng về cuối, mức giảm càng cao, các mã chứng khoán của các doanh nghiệp la liệt nằm sàn, nhiều mã trắng bên mua.

1. Bản cáo bạch (Prospectus)

Khi phát hành chứng khoán ra công chúng, công ty phát hành phải công bố cho người mua chứng khoán những thông tin về bản thân công ty, nêu rõ những cam kết của công ty và những quyền lợi của người mua chứng khoán… để trên cơ sở đó người đầu tư có thể ra quyết định đầu tư hay không. Tài liệu phục vụ cho mục đích đó gọi là Bản cáo bạch hay Bản công bố thông tin.

2. Bán cổ phần khơi mào (Equity carve out)

Hoạt động bán cổ phần khơi mào, còn gọi là chia tách một phần, xảy ra khi công ty mẹ tiến hành bán ra công chúng lần đầu một lượng nhỏ (dưới 20%) cổ phần của công ty con mà nó nắm hoàn toàn quyền sở hữu.

3. Bán khống (Short Sales)

Trong tài chính, Short sales hay Short selling hoặc Shorting là một nghiệp vụ trên thị trường tài chính được thực hiện nhằm mục đích lợi nhuận thông qua giá chứng khoán giảm.

4. Bán tháo (Bailing out)

Bailing out- bán tháo- chỉ việc bán nhanh bán gấp một chứng khoán hay một loại hàng hóa nào đó bất chấp giá cả, có thể bán với mức giá thấp hơn rất nhiều so với khi mua vào, như một biện pháp cứu vãn thua lỗ hơn nữa khi chứng khoán hay mặt hàng này đang theo chiều rớt giá trên thị trường. Với thị trường chứng khoán, mọi thông tin đều là tài nguyên quí giá, thì chỉ cần một tín hiệu “không lành” đã có thể gây lên hiện tượng bán tháo.

5. Báo cáo tài chính (Financial statement)

Báo cáo tài chính là các bản ghi chính thức về tình hình các hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp.

6. Bảo lãnh (Underwrite)

Bảo lãnh là thuật ngữ tài chính chỉ việc một người hoặc một tổ chức chấp nhận rủi ro mua một loại hàng hóa giấy tờ nào đó để đổi lấy cơ hội nhận được món lời khác.

7. Bẫy giảm giá (Bear trap)

Bẫy giảm giá được hình thành dưới dạng một tín hiệu giả cho thấy dường như chứng khoán đang có dấu hiệu đảo chiều, bắt đầu giảm giá sau một đợt tăng liên tiếp.

8. Bẫy tăng giá (Bull trap)

Bẫy tăng giá được hình thành dưới dạng một tín hiệu giả cho thấy dường như chứng khoán đang có dấu hiệu đảo chiều, bắt đầu tăng giá sau một đợt sụt giảm liên tiếp.

9. Biên an toàn (Margin of safety)

Là một nguyên lý đầu tư trong đó nhà đầu tư chỉ mua chứng khoán khi giá thị trường thấp hơn nhiều so với giá trị nội tại của chứng khoán đó. Nói cách khác, khi mức giá thị trường thấp hơn nhiều so với mức giá nội tại mà nhà đầu tư xác định thì khoảng chênh lệch giữa hai giá trị này được gọi là biên an toàn.

10. Bù trừ chứng khoán và tiền (Clearing)

Bù trừ chứng khoán và tiền là khâu hỗ trợ sau giao dịch chứng khoán.

11. Các khoản đầu tư ngắn hạn (Short Term Investments)

Các khoản đầu tư ngắn hạn là một tài khoản thuộc phần tài sản ngắn hạn nằm trên bảng cân đối kế toán của một công ty.

12. Cầm cố chứng khoán (Mortgage stock)

Cầm cố chứng khoán là một nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán trên cơ sở hợp đồng pháp lý của hai chủ thể tham gia, trong đó quy định rõ giá trị chứng khoán cầm cố, số tiền vay, lãi suất và thời hạn trả nợ, phương thức xử lý chứng khoán cầm cố.

13. Chênh giá mở cửa thị trường (Opening gap)
Trong giao dịch cổ phiếu chênh giá mở cửa thị trường là hiện tượng giá mở cửa chênh lệch rất lớn so với giá đóng cửa ngày hôm trước, thông thường là do những thông tin đặc biệt tốt hoặc đặc biệt xấu trong thời gian thị trường đóng cửa.

14. Chênh lệch giá đặt mua/bán (Bid/Ask spread)

Chênh lệch giá đặt mua/đặt bán là mức chênh lệch giữa giá mua và giá bán của cùng một giao dịch (cổ phiếu, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, tiền tệ).

15. Chỉ số A-D (Advance – Decline Index)

Chỉ số A-D là chỉ số xác định xu hướng thị trường.

16. Chứng khoán (Security)

Chứng khoán là các loại giấy tờ có giá và có thể mua bán trên thị trường, gọi là thị trường chứng khoán, khi đó chứng khoán là hàng hóa trên thị trường đó.

17. Chứng khoán phái sinh (Derivatives)

Chứng khoán phái sinh (derivatives) là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ đã có như cổ phiếu, trái phiếu, nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận.

18. Cổ phần (Share)

Cổ phần là khái niệm chỉ các chứng nhận hợp lệ về quyền sở hữu một phần đơn vị nhỏ nhất của doanh nghiệp nào đó.

19. Cổ phiếu lưu hành trên thị trường (Outstanding shares)

Cổ phiếu lưu hành trên thị trường là số cổ phần hiện đang được các nhà đầu tư nắm giữ, bao gồm cả các cổ phiếu giới hạn được sở hữu bởi nhân viên của công ty hay cá nhân khác trong nội bộ công ty.

20. Cổ phiếu phổ thông (Common stock)

Cổ phiếu thường hay còn gọi là cổ phiếu phổ thông là loại chứng khoán đại diện cho phần sở hữu của cổ đông trong một công ty hay tập đoàn, cho phép cổ đông có quyền bỏ phiếu và được chia lợi nhận từ kết quả hoạt động kinh doanh thông qua cổ tức và/hoặc phần giá trị tài sản tăng thêm của công ty theo giá thị trường.

21. Cổ phiếu quỹ (Treasury stock)

Cổ phiếu quỹ là cổ phiếu do công ty phát hành mua ngược lại từ thị trường chứng khoán.

22. Cổ phiếu sơ cấp (Primary Stock)

Cổ phiếu sơ cấp là loại cổ phiếu được phát hành lúc thành lập doanh nghiệp hoặc cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước.

23. Cổ phiếu thưởng (Bonus stock)

Có hai trường hợp thưởng cổ phiếu: thưởng cho người có đóng góp lớn và thưởng cho tất cả các cổ đông.

24. Cổ phiếu ưu đãi (Preferred stock)

Cổ phiếu ưu đãi cho phép cổ đông nắm giữ nó được trả cổ tức trước cổ đông nắm giữ cổ phiếu phổ thông.

25. Cổ tức (Dividend)

Cổ tức là một phần lợi nhuận sau thuế được chia cho các cổ đông của một công ty cổ phần.

26. Giá trị ghi sổ (Book Value)

Giá trị ghi sổ cho biết giá trị tài sản công ty còn lại thực sự là bao nhiêu nếu ngay lập tức công ty rút lui khỏi kinh doanh.

27. Giá trị vốn hoá thị trường (Market capitalization)

Giá trị vốn hoá thị trường là thước đo quy mô của một doanh nghiệp, là tổng giá trị thị trường của doanh nghiệp, được xác định bằng số tiền bỏ ra để mua lại toàn bộ doanh nghiệp này trong điều kiện hiện tại.

28. Hệ số Alpha (Alpha indicator)

Alpha là một thước đo tỷ suất sinh lợi dựa trên rủi ro đã được điều chỉnh.

29. Hệ số Beta (Beta indicator)

Beta hay còn gọi là hệ số beta, đây là hệ số đo lường mức độ biến động hay còn gọi là thước đo rủi ro hệ thống của một chứng khoán hay một danh mục đầu tư trong tương quan với toàn bộ thị trường.

30. Hệ số giá thị trường trên giá ghi sổ (Price to Book ratio)

Hệ số giá thị trường trên giá ghi sổ là hệ số được sử dụng để so sánh giá trị trường của một cổ phiếu so với giá trị ghi sổ của cổ phiếu đó.

31. Hệ số nguy cơ phá sản (Z-Score)

Hệ số nguy cơ phá sản giúp các nhà đầu tư đánh giá rủi ro tốt hơn, thậm chí có thể dự đoán được nguy cơ phá sản của doanh nghiệp trong tương lai gần.

32. Hệ số thu nhập trên tài sản (Return on Assets)

Đây là một chỉ số thể hiện tương quan giữa mức sinh lợi của một công ty so với tài sản của nó. ROA sẽ cho ta biết hiệu quả của công ty trong việc sử dụng tài sản để kiếm lời.

33. Mô hình xác định giá trị của tài sản vốn (Capital Asset Pricing Model)

Ý tưởng chung đằng sau mô hình định giá tài sản vốn là các nhà đầu tư khi tiến hành đầu tư vốn của mình vào bất cứ tài sản gì thì cũng được bù đắp lại theo hai cách: giá trị tiền tệ theo thời gian và rủi ro.

34. Thị trường theo chiều giá lên (Bull market)

Bull market là thị trường theo chiều giá lên, là dạng thị trường tài chính mà giá các loại chứng khoán (chủ yếu là cổ phiếu) tăng nhanh hơn mức bình quân trong lịch sử của chúng, trong một thời gian dài (vài tháng) với lượng mua bán lớn .

35. Thị trường theo chiều giá xuống (Bear Market)

Thị trường theo chiều hướng xuống Giá rớt trong một thời khoảng kéo dài.

36. Tính thanh khoản (Liquidity)

Tính thanh khoản được hiểu là việc chứng khoán hay các khoản nợ, khoản phải thu… có khả năng đổi thành tiền mặt dễ dàng, thuận tiện cho việc thanh toán hay chi tiêu.

37. Trái khoán (Debenture)

Trái khoán là một công cụ nợ không được bảo đảm bằng các tài sản hữu hình hoặc kí quỹ nào mà nó chỉ được đảm bảo bằng mức độ tin cậy về khả năng trả nợ hay là uy tín của chính công ty phát hành trái khoán.

38. Trái phiếu (Bond)

Trái phiếu là một chứng nhận chịu lãi do chính phủ hay một doanh nghiệp phát hành cam kết trả cho người sử hữu trái phiếu một số tiền nhất định vào một thời gian nhất định.

39. Trái phiếu chuyển đổi (Convertible Bond)

Theo như tên gọi của nó, trái phiếu chuyển đổi là loại trái phiếu mà người nắm giữ có khả năng chuyển đổi chúng thành một lượng cổ phiếu nhất định của công ty phát hành. Khi được phát hành lần đầu, các trái phiếu này đóng vai trò như một loại trái phiếu doanh nghiệp thông thường, có mức lãi suất thấp hơn một chút.

40. Tỷ lệ cổ tức trên thị giá cổ phần (Dividend Yield)

Chỉ số Tỷ lệ cổ tức trên thị giá cổ phần (Dividend Yield) là một công cụ hữu hiệu giúp nhà đầu tư quyết định nên chọn đầu tư vào doanh nghiệp nào. Chỉ số này phản ánh mối quan hệ giữa cổ tức nhà đầu tư nhận được với thị giá của cổ phiếu mà nhà đầu tư mua vào.

41. Mức chênh lệch giá-chi phí (Price-cost margin)

Các số đo thực nghiệm của CHÊNH LỆCH LỢI NHUÂN nơi mà các số liệu kế toán được sử dụng và do đó ta không thể trực tiếp quan sát được định nghĩa kinh tế về lợi nhuận.

42. Kiểm soát giá (Price control)

Nói chung thường liên quan tới việc quyđịnh giá cả bằng luật pháp của nhà nước

43. Đường tiêu dùng theo giá (Price consumption curve)

Còn được biết với tên ĐƯỜNG CHÀO GIÁ. Tiếp điểm của đường BÀNG QUAN của người tiêu dùng và đường ngân sách của họ để xác định sự cân bằng của người tiêu dùng

44. Uỷ ban vật giá (Price Commission)

Một uỷ ban độc lập do Chính phủ Anh thành lập năm 1973 để thực hiện các chính sách kiểm soát giá được biểu hiện trong các bộ luật về giá do Bộ Tài Chính soạn và Quốc hội thông qua. Uỷ ban này chính thức được bãi bỏ vào năm 1980.

45. Giá (Price)

Giá của một loại hàng hoá hoặc giá đầu vào cho thấy cái phải chi để có được một thứ hàng hoá hay dịch vụ.