Thứ Tư, 25 tháng 1, 2023

Cung Phụ Mẫu

 Cung Phụ Mẫu đã từng có tên gọi là “cung tướng mạo”, dùng để luận đoán về tướng mạo của đương số. Vì cơ địa tiên thiên của một người là thụ hưởng từ cha mẹ (trong đó có cả tướng mạo). Về sau cổ nhân đổi thành “Cung Phụ Mẫu”, dùng để luận đoán tình cảm giữa con cái với cha mẹ, tình trạng hôn nhân của cha mẹ, hoàn cảnh của cha mẹ lúc đương số còn bé, có được cha mẹ giáo dục, che chở hay không….

Âm Dương Tuần Triệt tại tiền

Mẹ cha ắt đã quy tiên thủa nào

Phụ Mẫu cung hội Thiên Lương

Mẹ cha đồng hưởng thọ trương an vui

Xem – Luận Cung Phụ Mẫu đầy đủ nhất

Trong Tử Vi Đẩu Số, Cung Phụ Mẫu có ba ý nghĩa về luận đoán

  • Một là, luận đoán duyên phận của đương số đôi với cha mẹ, các tình huống sống chết tồn vong, cát hung họa phúc của cha mẹ.
  • Hai là, mối quan hệ giữa đương số với cấp trên, ông chủ như thế nào?
  • Ba là, trong xã hội phải có quan lại quản hạt hoặc cấp chủ quản trong công việc, họ có thể ước thúc hành động của đương số trong một thời kỳ. Những quan lại quản hạt hoặc cấp chủ quản trong công việc này có mối quan hệ thế nào với đương số?

Trong ba điểm trên, Cung Phụ Mẫu của thiên bàn (hoặc địa bàn) chủ yếu dùng để luận đoán vấn đề thứ nhất Sau khi luận đoán được tính chất chủ yếu, vẫn cần phải căn cứ vào Cung Phụ Mẫu của từng đại hạn và mỗi một lưu niên (nhân bàn) để luận đoán, để xem cát hung họa phúc của cha mẹ ở mỗi thời kỳ.

Còn điểm “Hai” và “Ba” chủ yếu để luận đoán Cung Phụ Mẫu của đại hạn hoặc lưu niên (nhân bàn). Nhưng cần phải ứng dụng một cách linh hoạt những tính chất trình bày trong bài viết này.

Ví dụ như, Thiên Cơ thủ Cung Phụ Mẫu, khi có Thiên Mã đồng độ hoặc xung chiếu thì chủ về còn bé đã chia ly với gia đình. Lúc gặp kết cấu tinh hệ này ở Cung Phụ Mẫu của lưu niên, lại có thể là một vận trình ly biệt do cấp trên đề bạt đương số. Hoặc chủ về đương số rời khỏi công ty mình đang làm.

Ví dụ khác, “Thiên Đồng Cự Môn” đồng độ, thủ Cung Phụ Mẫu. Chủ về cha con bất hòa. Lúc gặp kết cấu tinh hệ này ở Cung Phụ Mẫu của lưu niên, thì có thể trong năm đó. Chủ về có sự bất hòa với người chủ quản của mình.

Theo Cổ Học thì chỉ khi bạn hiểu rõ ý nghĩa thực sự của Cung Phụ Mẫu, thì mới có thể luận đoán chính xác. Bởi trong lúc ứng dụng thực tế, bạn đọc nhất đinh sẽ cảm thấy bối rối khi gặp tổ hợp các sao ở Cung Phụ Mẫu của đại hạn hoặc lưu niên. Không biết tính chất của tinh hệ rốt cuộc dùng để đại biểu cho cha mẹ, hay đại biểu cho cấp trên, hay là đại biểu cho cơ cấu chủ quản hoặc quan lại quản hạt?

Theo Vương Đình Chi, thông thường có thể dùng biện pháp xem kèm cung vị khác để giải quyết. Như xem kèm Cung Quan Lộc để luận đoán tình trạng quan hệ với cấp trên. Xem kèm Cung Điền Trạch để luận đoán tình trạng cát hung của cha mẹ. Xem kèm Cung Phúc Đức để luận đoán tình trạng giao thiệp với cơ cấu qụản hạt. Cả ba đều nên xem kèm Cung Mệnh để luận đoán.

Đương nhiên, cũng có một số tình hình thực tế vốn không có gì phức tạp. Ví dụ như một người qua tuổi trung niên, có thể cha mẹ đã qua đời, bản thân lại là ông chủ. Thế thì tính chất các sao ở Cung Phụ Mẫu của đại hạn và lưu niên đương nhiên chỉ liên quan đến đơn vị quản hạt.

Ví dụ như Thiên Lương nhập thủ Cung Phụ Mẫu của lưu niên, có Thiên Khôi, Thiên Việt đồng độ hoặc hội chiếu, vốn chủ về đương số được cha mẹ che chở. Lúc này sẽ biến thành có thể được cơ quan giúp đỡ.

Hiểu rõ những nguyên tắc luận đoán vừa thuật ở trên, người nghiên cứu Đẩu Số mới có thể luận đoán một cách linh hoạt.

Tử Vi Cung Phụ Mẫu

Tử Vi thủ Cung Phụ Mẫu, nhập miếu, mà còn hội các sao cát. Chủ về cha mẹ giàu sang, mà còn không có hình khắc. Nếu Tử Vi lạc hãm, thì cha mẹ có chủ kiến cực mạnh, dễ xảy ra sự bất đồng với đương số. Gặp sát tinh càng chủ về bất hòa. Có kết cấu tinh hệ này ở đại hạn hay lưu niên thì cha mẹ có nguy cơ bị nạn tai bệnh tật.

Phàm Tử Vi ở Cung Phụ Mẫu có các sao Tham Lang, Hồng Loan, Thiên Hỷ, Thiên Riêu đồng độ. Chủ về có mẹ kế, hoặc cha có vợ hai hay tình nhân bên ngoài.

Nếu Cung Mệnh gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh độc tọa, Cung Phụ Mẫu lại có kết cấu sao thuật ở trên thì có thể là con nuôi của chú bác, hoặc có cha mẹ “lưỡng trùng”.

Cha mẹ “lưỡng trừng” là gồm cha ruột của đương số và mẹ kế. Hay mẹ ruột của đương số và cha dượng, chứ không chỉ nói về con thừa tự của người khác. Có điều, trong tình trạng phức tạp này, Cung Phụ Mẫu phần nhiều có Tả Phù, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc đồng độ. (Tình hình này có thể áp dụng cho các sao nhập thủ Cung Phụ Mẫu, chứ không nói riêng Tử Vi nhập thủ.)

Tử Vi thủ Cung Phụ Mẫu, có Kình Dương, Đà La, Hóa Kỵ, Thiên Hình đồng độ hoặc hội chiếu. Chủ về hình khắc, cha mẹ bị tai họa bất ngờ, hay bị bệnh nặng. Ở Cung Phụ Mẫu của thiên bàn thì chủ về lúc bé đã có quan hệ xa cách với cha mẹ, cuộc đời cũng ít được cha mẹ che chở. (Đương nhiên chúng ta có thể mang tính chất này mở rộng ra, xem là một thời kỳ không được cấp trên xem trọng. Hoặc thường xảy ra việc không hợp ý kiếnvới cơ cấu quản hạt.)

  • “Tử Vi Thiên Phủ” đồng độ. Chủ về cha mẹ giàu sang, mà còn không có hình khắc.
  • Tử Vi có Phá Quân đồng độ hoặc hội chiếu. Chủ về từ nhỏ đã chia ly với gia đình, nếu không, sẽ có hình khắc. Hoặc có khoảng cách biệt giữa hai đời cực sâu.
  • “Tử Vi Thất Sát” đồng độ, gặp cát tinh hội hợp. Chủ về không có hình khắc, nhưng cha mẹ có uy quyền, hoặc tính cách mạnh mẽ. Gặp các sao Sát, Hình và Kiếp Sát, Cô Thần thì chủ về hình khắc.
  • “Tử Vi Thiên Tướng” đồng độ, ưa gặp Thiên Đức, Giải Thần, Thiên Vu. Chủ về không hình khắc, gặp các sao Sát Kỵ, Hình, Cô (gọi chung các sao Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Hóa Kỵ, Âm Sát, Kiếp Sát, Cô Thần) thì chủ về hình khắc.
  • “Tử Vi Tham Lang” đồng độ, thông thường chủ về không có hình khắc.

Thiên Cơ Cung Phụ Mẫu

Sao Thiên Cơ là sao hời hợt, hiếu động, nên khi Thiên Cơ nhập thủ Cung Phụ Mẫu. Chủ về rời xa cha mẹ. Nếu không, sẽ có “hình thương khắc hại”.

Thiên Cơ thủ Cung Phụ Mẫu, có Thiên Mã đồng độ, hoặc ở đối cung vây chiếu. Chủ về lúc bé đã chia ly với gia đình, lớn lên thì ở rể. Trong xã hội hiện đại, ý nghĩa lại có thể chuyển thành phụng dưỡng cha mẹ vợ, nhưng cha mẹ ruột thì lại xa cách.

Thiên Cơ thủ Cung Phụ Mẫu, có các sao Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Hóa Kỵ, Âm Sát, Kiếp Sát, Cô Thần đồng độ hoặc hội chiếu. Chủ về lúc bé cha mẹ bất toàn, làm con nuôi người khác, có cha dượng hay có mẹ kế.

  • “Thiên Cơ Cự Môn” đồng độ, lúc nhỏ bất lợi về cha mẹ (Cung Mệnh gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, cũng chủ về cha mẹ “lưỡng trùng”).
  • Thiên Cơ có Thái Âm hay Thiên Lương đồng độ hoặc hội chiếu, không chủ về hình khắc. Gặp Tam Hóa, sao phụ tá cát thì còn chủ về được cha mẹ che chở. Gặp các sao Sát, Kỵ, Hình, Cô như đã thuật ở trên thì chủ về cha mẹ bị nạn tai, bệnh tật. Nhưng Thiên Cơ và Thiên Lương mà gặp nhiều sao Sát, Kỵ, Hình, Cô, cũng chủ về cha mẹ có chủ kiến cực nặng, cần thận trọng điều hòa mối quan hệ.

Thái Dương Cung Phụ Mẫu

Thái Dương thủ Cung Phụ Mẫu, nhập miếu, cha mẹ không có hình khắc. Nếu lại gặp Tam Hóa, phụ tinh cát diệu hội chiếu hay đồng độ. Thì chủ về được cha mẹ thương yêu, còn chủ về cha mẹ giàu có, nắm quyền sự nghiệp.

Nếu Thái Dương lạc hãm, thì cha bất lợi. Nếulạc hãm Hóa Kỵ, mà gặp Tứ Sát tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình thì cần phải xem xét Thái Âm trong mệnh bàn có sát tinh đồng độ hay không. Nếu có sát tinh. Chủ về khắc mẹ. Nếu không có sát tinh, mà có cát tinh và các sao Thiên Lương, Thiên Thọ, Giải Thần, Thiên Phúc đồng độ hoặc hội chiếu. Thì chủ về khắc cha.

  • “Thái Dương Thái Âm” đồng độ ở cung Sửu, bất lợi về cha. Đồng độ ở cung Mùi, bất lợi về mẹ. Thái Dương Hóa Kỵ thông thường chủ về cha bị nạn tai bệnh tật. Thái Âm Hóa Kỵ thông thường chủ về mẹ bị nạn tai bệnh tật.
  • “Thái Dương Cự Môn” đồng độ. Chủ về bất hòa với cha, có khoảng cách biệt giữa hai đời.
  • “Thái Dương, Thiên Lương” đồng độ, có cát tinh hội chiếu mà không có sát tinh. Chủ về cha mẹ không có hình khắc. Nếu đồng độ ở cung Mão còn chủ về được hưởng phức ấm của cha mẹ. Nếu có các sao Sát, Hình hội hợp. Thì chủ về hình khắc, rời xa cha mẹ, hoặc làm con nuôi người khác.

Sao Vũ Khúc ở Cung Phụ Mẫu

Vũ Khúc mang tính chất cô độc và hình khắc, thủ Cung Phụ Mẫu, thông thường chủ về hình khắc cha mẹ. Nếu nhập miếu, còn có cát tinh hội hợp. Thì nên làm con thừa tự của bác hay chú, hoặc rời xa cha mẹ, thì có thể tránh hình khắc. Do Vũ Khúc là sao tiền tài, cho nên nếu lúc bé hoặc lúc trẻ, đương số vì bị nạn tai bệnh tật mà làm cha mẹ hao tài, phá tán điền sản thì không còn hình khắc.

Vũ Khúc ở Cung Phụ Mẫu ưa gặp Thiên Phủ, Thiên Thọ, có thể tránh hình khắc. Nhưng Vũ Khúc rốt cuộc vẫn mang sắc thái cô độc và hình khắc. Cho nên dù tránh được hình khắc, cũng chủ về không được cha mẹ yêu thương.

Nếu Vũ Khúc ở Cung Phụ Mẫu có Tứ Sát tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Cô Thần hội chiếu. Thì lúc bé cha mẹ hình khắc, hoặc bị nạn tai bệnh tật. Nếu lại gặp, chủ về cha mẹ tử vong hay mắc bệnh nan y. Hoặc cha mẹ gia nghiệp điêu linh, kinh tế khó khăn.

  • Vũ Khúc có Thất Sát, Vũ Khúc, Phá Quân đồng độ hoặc hội chiếu. Đều chủ về “hình thương khắc hại”.
  • “Vũ Khúc Thiên Tướng” đồng độ, gặp cát tinh. Chủ về không có hình khắc, gặp các sao Sát, Kỵ thì có hình khắc.

Thiên Đồng Cung Phụ Mẫu

Thiên Đồng là sao phúc, nhưng “phúc” ở đây có lúc biểu thị tuổi trẻ gian khổ, tay trắng làm nên. Cho nên lúc nhập thủ Cung Phụ Mẫu, vẫn cần chú ý xem có tính chất hình khắc, tổn thương, họa hại hay không.

Thiên Đồng nhập miếu. Chủ về lúc nhỏ cha mẹ đầy đủ, không có “khắc hại hình thương”.

Thiên Đồng lạc hãm, mà gặp phụ tinh cát diệu, và Thiên Đức, Nguyệt Đức, Thiên Thọ, Thiên Phúc. Chủ về không có “hình thương khắc hại”. Nếu không, chủ về rời xa cha mẹ hoặc làm con thừa tự của bác hay chú.

Thiên Đồng ở Cung Phụ Mẫu, có Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình hội hợp, cũng chủ về hình khắc, hay làm con thừa tự của bác hay chú.

  • “Thiên Đồng Thái Âm” đồng độ, Thái Âm Hóa Kỵ hoặc đồng độ ở cung Ngọ, gặp các sao Sát, Hình mà không có sao cát giải cứu. Chủ về lúc đầu khắc mẹ. Nếu có cát tinh giải cứu mà trong mệnh bàn có Thái Dương lạc hãm hội chiếu. Thì chủ về lúc đầu khắc cha. Nếu”Thái Âm Thiên Đồng” đồng độ ở cung Tí, không gặp các sao Sát, Hình thì chủ về cha mẹ không có hình khắc, tổn thương, họa hại. Nếu lại gặp nhiều sao cát hội chiếu hoặc đồng độ. Thì chủ về được cha mẹ che chở.
  • “Thiên Đồng Cự Môn” đồng độ. Chủ về cha con bất hòa, hoặc tuổi tác giữa cha con cách nhau rất xa.
  • “Thiên Đồng Thiên Lương” đồng độ, không chủ về hình khắc, tổn thương, họa hại. Chỉ trường hợp Thiên Đồng Hóa Kỵ, hoặc có các sao Sát, Hình, cô hội chiếu thì vẫn chủ về có khắc hại. Nếu các sao cát hung cùng chiếu. Thì chủ về cha con bất hòa.

Sao Liêm Trinh ở Cung Phụ Mẫu

Liêm Trinh thủ Cung Phụ Mẫu là ác diệu, thông thường đều bất lợi về cha mẹ, có “hình thương khắc hại”. Nhẹ thì chủ về không được cha mẹ che chở, hoặc tình cảm không được tốt.

Liêm Trinh ở Cung Phụ Mẫu lạc hãm, hoặc Hóa Kỵ. Chủ về làm con thừa tự của bác hay chú, hoặc làm con nuôi người khác. Nếu được Thiên Phủ, Thiên Tướng đồng độ hoặc hội chiếu, mà còn gặp các sao cát Thiên Phúc, Thiên Thọ thì có giải cứu, mức độ khắc hại sẽ giảm nhẹ, chỉ chủ về tình cảm không hợp.

Liêm Trinh có Thiên Mã, Thiên Hư đồng độ hoặc hội chiếu. Chủ về lúc bé đã rời xa cha mẹ.

  • Liêm Trinh có Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang hội chiếu hoặc đồng độ. Đều chủ về cha mẹ bị “hình thương”. Nếu lại gặp thêm Tứ Sát, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Cô Thần, Âm Sát. Thì chủ về hình khắc tử vong, tai họa lớn, hoặc mắc bệnh nan y.

Nếu Liêm Trinh thủ Cung Phụ Mẫu, có Hồng Loan, Thiên Hỷ, Hàm Trì, Thiên Riêu, Thiên Hình đồng độ hoặc hội chiếu. Chủ về đương số là do vợ hai hay vợ lẽ sinh ra, nếu không sẽ chủ về cha có tình nhân bên ngoài. Trong xã hội hiện đại, cũng có thể chủ về mẹ có hai lần hôn nhân.

Thiên Phủ Cung Phụ Mẫu

Thiên Phủ thủ Cung Phụ Mẫu, thông thường đều chủ về tình cảm cha con hòa hợp, cũng chủ về lúc bé có đầy đủ cha mẹ. Nhưng nếu Thiên Phủ có Kình Dương đồng cung. Thì chủ về cha con ý kiến bất hòa.

Thiên Phủ thủ Cung Phụ Mẫu ựa gặp các cát tinh. Đều chủ về được hưởng phúc ấm của cha mẹ. Nhưng nếu Lộc Tồn đồng độ thì chủ về cha mẹ ưa nắm quyền tài chính, tuổi già rồi cũng không chịu giao lại cho đương số. Nếu thấy ở Cung Huynh Đệ có các sao thị phi tranh chấp. Thì chủ về cha mẹ có thiên kiến, quyền sẽ giao cho anh chị em của đương số.

Thiên Phủ ở Cung Phụ Mẫu, có Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình hội chiếu. Chủ về cha mẹ bị “hình thương”, làm con nuôi hay làm con thừa tự của bác hay chú, nên ở riêng.

Sao Thái Âm ở Cung Phụ Mẫu

Thái Âm thủ Cung Phụ Mẫu, nhập miếu, có sao cát hội hợp. Chủ về cha mẹ đầy đủ, không có hình khắc, tổn thương, họa hại.

Nếu Sao Thái Âm lạc hãm, thì không được hưởng phúc ấm của mẹ, có thể mẹ mất sớm hoặc mẹ ly hôn tái giá, đương số theo cha. Hoặc lúc bé đương số ở với mẹ nhưng mẹ nhiều bệnh không thể chăm sóc cho đương số.

Những trường hợp trên cần phải xem xét kỹ các sao hội hợp mà định. Thông thường gặp các sao Đào Hoa, Thiên Hình thì chủ về tái giá. Gặp Thiên Nguyệt, Thiên Hư, Âm Sát thì chủ về mắc bệnh. Gặp Hóa Kỵ và các sao Sát, Hình thì chủ về mất sớm.

Phàm Thái Âm Hóa Kỵ ở Cung Phụ Mẫu, vẫn cần phải xem xét Thái Dương ở mệnh bàn, nếu lạc hãm mà gặp các sao Sát, Hình thì chủ về cha mất trước, cha mất thì mẹ thành quả phụ, cũng hợp với tính chất của Thái Âm Hóa Kỵ.

Thái Âm hội Tứ Sát tinh, Thiên Hình, Hóa Kỵ, Âm Sát, Cô Thần, Thiên Hư. Chủ về lúc bé làm con thừa tự của bác hay chú. Gặp Thiên Mã thì chủ về xa cách cha mẹ, nếu không sẽ có “hình thương khắc hại”.

  • “Thái Âm, Thái Dương” đồng độ, ở cung Sửu thì bất lợi về cha, ở cung Mùi thì bất lợi về mẹ.

Tham Lang Cung Phụ Mẫu

Tham Lang thủ Cung Phụ Mẫu, nhập miếu, Hóa Lộc, Hóa Quyền, hoặc có sao cát hội chiếu. Chủ về cha mẹ không có hình khắc.

Nếu Tham Lang Hóa Kỵ, hội Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thiên Hình, Địa Không, Địa Kiếp. Chủ về lúc nhỏ rời xa cha mẹ hoặc làm con nuôi người khác, nếu không sẽ có hình khắc. Nếu lại gặp Thiên Nguyệt, Âm Sát đồng độ, thì cha mẹ bị nạn tai, bệnh tật. Có Thiên Đức, Thiên Thọ, Thiên Phúc đồng độ, thì có giải cứu.

Tham Lang nhập Cung Phụ Mẫu, thông thường chủ về tình cảm cha mẹ con cái hòa hợp, nhưng có tự tư tự lợi, chỉ nghĩ đến bản thân.

  • Nếu “Tham Lang Liêm Trinh” đồng độ, hoặc gặp Hồng Loan, Thiên Hỷ, Thiên Hình, Thiên Riêu, Hàm Trì. Chủ về đương số là do vợ hai hay vợ lẽ sinh ra, nếu không sẽ chủ về có hình khắc. Đại hạn và lưu niên mà gặp tinh hệ có kết cấu này thì chủ về cha tuổi già vẫn phong lưu, hay vẫn còn nhiều thù tạc phong hoa tuyết nguyệt, nếu không sẽ chủ về cha mẹ chìm đắm trong thú vui riêng.

Sao Cự Môn ở Cung Phụ Mẫu

Sao Cự Môn là ám tinh, nên khi Cự Môn thủ Cung Phụ Mẫu thì bất lợi, có thể xem là ác diệu. Trong tình hình thông thường. Đều chủ về làm con thừa tự của bác hay chú, làm con nuôi người khác, nếu không sẽ chủ về “hình thương khắc hại”.

  • “Thiên Cơ Cự Môn” đồng độ, tính chất “khắc hại hình thương” càng nặng. Cự Môn Hóa Kỵ, thì giữa cha con có nhiều điều tiếng thị phi. Thiên Cơ Hóa Kỵ, thì giữa hai đời đều có sự tính toán.
  • “Cự Môn Thái Dương” đồng độ, giữa hai đời có nhiều tranh cãi ồn ào một cách vô vị.
  • “Cự Môn Thiên Đồng” đồng độ. Chủ về gia sản của cha mẹ ông bà dần dần tiêu tán, hoặc đất đai nhà cửa của ông bà cha mẹ không giữ được vì bị người khác đoạt. Cũng chủ về bất lợi cho cha mẹ, lúc nhỏ cha mẹ khó lưỡng toàn.

Cự Môn thủ Cung Phụ Mẫu, ưa gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền, Lộc Tồn đồng độ hoặc hội chiếu, không có các sao Sát, Hình. Chủ về cha mẹ giàu có. Nếu lại gặp Thiên Vu đồng độ hoặc hội chiếu. Chủ về cha mẹ để lại di sản.

Nếu hội Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Hóa Kỵ. Thì chủ về cha mẹ có “hình thương khắc hại”, hoặc nhiều thị phi kiện tụng.

Sao Thiên Tướng Cung Phụ Mẫu

Thiên Tướng thủ Cung Phụ Mẫu, nếu gặp “Tài Ấm Giáp Ấn” thì chủ về cha mẹ giàu sang sống thọ. Nếu gặp “Hình Kỵ Giáp Ấn” thì chủ về cha mẹ bị hình khắc, bệnh tật.

Trong các tình hình thông thường, Thiên Tướng nhập miếu thủ Cung Phụ Mẫu. Chủ về không có hình khắc. Nếu lạc hãm, gặp cát tinh thì không có khắc. Gặp các ác diệu sát thì có hình thương, nạn tai bệnh tật.

  • Thiên Tướng rất kỵ Vũ Khúc đồng độ. Chủ về có “hình thương khắc hại”. Vũ Khúc Hóa Kỵ thì càng nặng. Nếu Vũ Khúc Hóa Kỵ. Chủ về cha mẹ bị nạn tai, bệnh tật. Nếu các sao Sát, Hình nặng thì mắc bệnh nan y.
  • “Thiên Tướng Liêm Trinh” đồng độ, cũng chủ về có “hình thương”, nạn tai bệnh tật. Thiên Tướng Hóa Kỵ thì tình cảm giữa hai đời bị đổ vỡ, hoặc cha mẹ bị bệnh nặng. Thiên Tướng và Liêm Trinh hội hợp với Tứ Sát tinh thì lúc nhỏ có khắc. Nếu gặp các sao Hình, Kỵ nặng thì chủ về rời xa cha mẹ hoặc làm con nuôi người khác.

Thiên Tướng có Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phù, Hữu Bật, Giải Thần, Thiên Đức, Thiên Vu, Thiên Thọ hội hợp. Dù gặp các sao Sát, Kỵ cũng chủ về được giải cứu.

Sao Thiên Lương Cung Phụ Mẫu

Sao Thiên Lương hóa khí là “ấm” (che chở), nhập Cung Phụ Mẫu là thiện tinh. Nếu có Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa đồng độ hoặc hội chiếu. Đều chủ về không những được cha mẹ che chở, mà còn có di sản. Gặp Thiên Vu hội hợp thì càng đúng. Có điều, Thiên Lương không ưa có Lộc Tồn đồng độ. Chủ về giữa hai đời có sự bất hòa. Nếu lại gặp các sao Sát, Hình thì chủ về tranh chấp di sản.

Thiên Lương lạc hãm, thông thường đều chủ về “hình thương khắc hại”.

Thiên Lương hội Kình Dương, Thiên Mã. Chủ về lúc nhỏ đã chia ly với gia đình. Nếu sát tinh nặng thì chủ về làm con nuôi hoặc ở rể.

  • “Thiên Lương Thiên Đồng” đồng độ, thông thường không chủ về “hình thương khắc hại”. Không có sát tinh, gặp Thiên Mã. Thì chủ về giữa cha con duyên phận bạc. Hoặc cha thường xa gia đình, hoặc đương số rời xa cha mẹ. Có điều, nếu Thiên Đồng Hóa Kỵ, hội sát tinh, thì cũng chủ về có “hình thương”. Hoặc hai đời bất hòa, cũng có thể làm con nuôi người khác.
  • “Thiên Lương Thiên Đồng” đồng độ. Chủ về lúc bé cha mẹ đã rời xa gia đình.
  • “Thiên Lương Thái Dương” đồng độ, hội cát tinh. Chủ về không có “hình thương khắc hại”. Nếu ở cung Mão lại chủ về được hưởng phúc ấm của cha mẹ. Ở hãm địa thì sản nghiệp của cha bị tiêu tán. Nếu gặp sát tinh, vẫn chủ về hình khắc và chia ly, nên làm con nuôi người khác hoặc ở rể.

Sao Thất Sát Cung Phụ Mẫu

Thất Sát thủ Cung Phụ Mẫu là ác diệu, thông thường đều chủ về lúc nhỏ đã chia ly với gia đình, hoặc cha mẹ có “hình thương khắc hại”.

  • Thất Sát có Liêm Trinh, Vũ Khúc đồng độ, đều bất lợi về cha mẹ. Nếu Hóa Kỵ thì nạn tai bệnh tật. Lại gặp các sao Sát, Hình, thì có thể cha mẹ mất, hoặc sự nghiệp của cha mẹ sụp đổ, hoặc bị bệnh nặng, nạn tai.
  • Chỉ trường hợp “Thất Sát, Tử Vi” đồng độ, gặp cát tinh, mới không có hình khắc tổn thương, họa hại.

Nếu Thất Sát có Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Thiên Hình, Địa Không, Địa Kiếp, Kiếp Sát, Cô Thần hội chiếu thì chủ về “hình thương khắc hại” rất nặng. Có điều, nếu gặp các sao Thiên Đức, Nguyệt Đức, Thiên Phúc, Thiên Thọ thì có thể được giải cứu. Gặp Tử Vi và Thiên Tướng hội chiếu thì càng đúng, có thể hóa nguy thành an.

Phá Quân ở Cung Phụ Mẫu

Phá Quân ở Cung Phụ Mẫu cũng là ác diệu, tính chất hơi giống với Thất Sát. Phá Quân rất ngại Vũ Khúc, Liêm Trinh đồng độ, kỵ nhất là Hóa Kỵ. Nhưng ưa Tử Vi đồng độ mà còn có sao cát hội hợp, có thể tránh “hình thương khắc hại”.

Trong các tình huống thông thường, Phá Quân thủ Cung Phụ Mẫu đều chủ về cha mẹ bị hình thương, hoặc tình cảm không hợp. Bất kể cha mẹ còn hay đã mất đều chủ về cô độc. Nên rời xa cha mẹ, hoặc làm con nuôi, ở rể.

Nếu Phá Quân có Tả Phù, Hữu Bật đồng độ, gặp các sao Sát, Hình, Kỵ hì chủ về cha mẹ mắc bệnh nặng. Phá Quân thủ Cung Phụ Mẫu. Chủ về không giữ được đất đai nhà cửa của ông bà cha mẹ, hoặc đất đai nhà cửa của ông bà cha mẹ bị tiêu tán.

Sao Hóa Lộc ở Cung Phụ Mẫu

Khi Sao Hóa Lộc nhập thủ Cung Phụ Mẫu. Các trường hợp cụ thể được phân tích như sau:

  1. Hóa Lộc ở Cung Phụ Mẫu là chủ về đương số muốn phụng dưỡng cha mẹ, cũng mong muốn cuộc sống của cha mẹ được nâng cao, là cách suy nghĩ hiếu thuận.
  2. Xem xét ở góc độ so sánh, trong cha mẹ sẽ có một người đa tình hơn đương số, hoặc là người sống có tình.
  3. Tiếp theo trên, vì có Hóa Lộc nên tăng thêm hàm nghĩa đa tình. Ở đây cũng ngầm báo có thể sẽ có thêm một người cha hay một người mẹ. Nếu Cung Phụ Mẫu có Thiên Riêu, Tả Phù, Hữu Bật. Hoặc Cung Tật Ách có sao Đào Hoa. Hoặc Cung Huynh Đệ có Tả Phù, Hữu Bật, thì khả năng cha mẹ có người khác ở bên ngoài tăng lên nhiều, hoặc có khả năng cha mẹ không chỉ là một đôi.
  4. Vì Hóa Lộc có hàm nghĩa là “trông mong”, nên đương số sẽ trông mong ở cha mẹ. Trong một chừng mực nào đó, đương số nặng tính ỷ lại, khó ra khỏi gia đình để sống độc lập, hoặc sống dựa dẫm hoàn toàn vào gia đình.
  5. Vì Cung Phụ Mẫu cũng tượng trưng cho chủ quản, cấp trên. Trường hợp có Hóa Lộc, phần nhiều đều rất có duyên với bậc trưởng bối, trong môi trường làm việc cấp trên trực thuộc thường cùng quan tâm nâng đỡ đương số.
  6. Xét ở góc độ đối lại đương số cũng có kỳ vọng vào cấp trên. Thường thường bản thân đương số rất tận tâm với trách nhiệm của một thuộc cấp.
  7. Cung Phụ Mẫu là đối cung của Cung Tật Ách. Trường hợp Hóa Lộc ở cung vị thiên di của Cung Tật Ách, là tượng trưng cho viễn cảnh tốt đẹp trong tâm khảm của đương số, cực kì lạc quan. Nhưng Cung Phụ Mẫu chẳng phải là “ngã cung”, một khi Hóa Lộc chuyển sang Hóa Kỵ, sẽ xảy ra tình hình trái ngược cực lớn, sẽ làm cho tính khí của đương số trở nên nóng nảy, không vui. Nếu lúc này Cung Phúc Đức cũng bị ảnh hưởng của tứ hóa, thì năng lực điều chỉnh tâm trạng của đương số sẽ mất hết.
  8. Cung Phụ Mẫu còn là cung vị khí số của Cung Tử Tức, Cung Phụ Mẫu có Hóa Lộc là ngầm báo rất có duyên phận với con cái, đồng thời cũng chủ về đương số đối xử rất tốt với con cái.
  9. Cung Phụ Mẫu còn là cung vị chủ về văn thư, sự quang minh, trường hợp Hóa Lộc ở Cung Phụ Mẫu, một là cha mẹ có hơi dung túng đương số, hoặc thiếu quan tâm dạy dỗ. Hai là, bản thân đương số không chuyên tâm học hành, phần nhiều trong đại vận thứ nhất và đại vận thứ hai thành tích học tập không được tốt, quá trình học hành cũng dễ gặp hoàn cảnh khó khăn.
  10. Tiếp theo trên, nhất là trong tình huống Hóa Lộc chuyển sang Hóa Kỵ, hoặc Kỵ phá Lộc. Chủ về thành tích học tập bị ảnh hưởng. Sau khi qua đại vận thứ ba mà gặp tình huống kể trên, phần nhiều sẽ gặp vấn đề pháp luật, thường thấy nhất là vấn đề pháp luật về hôn nhân. Sau cùng, Cung Phụ Mẫu là cung vị chủ về văn thư, nên cũng bất lợi về giấy tờ chứng nhận.
  11. Cung Phụ Mẫu là cung vị tài bạch của Cung Nô Bộc, cũng là cung vị khí số của Cung Tử Tức (cung hợp tác). Trường hợp Hóa Lộc ở Cung Phụ Mẫu. Xét từ quan điểm “kép” của cung chức, đương số trong một giai đoạn nào đó của đời người, sẽ làm công việc đầu tư nhiều hướng, đương số có tính đến việc hợp tác làm ăn, rất có lòng tin về khả năng kiếm lời trong việc hợp tác này, mà đối tượng hợp tác cũng có vốn liếng hùng hậu. Nhưng vì Hóa Lộc ở cung vị tài bạch của Cung Nô Bộc, nếu hành hạn khơi động cung phi hóa có tác động vô ích đối với đương số, thì rốt cuộc vẫn là tiền của người khác.

Hóa Quyền Cung Phụ Mẫu

Khi Sao Hóa Quyền nhập thủ Cung Phụ Mẫu. Các trường hợp cụ thể được phân tích như sau:

  1. Như đã thuật ở trước, Hóa Quyền là lực hành động. Trường hợp Hóa Quyền ở “tha cung”, thông thường bản thân đương số sẽ thiếu động lực, thiếu hành động thực tiễn để đạt thành mộng tưởng, cần phải dựa vào sự trợ giúp của người nhà, cha mẹ. Hơn nữa, vì Hóa Quyền nhập Cung Phụ Mẫu, nên địa vị của đương số ở trong nhà là ở thế yếu.
  2. Hóa Quyền là quá trình đạt thành ước vọng của Hóa Lộc, có thể xem đây là cách hoàn thành mục đích đời người của đương số, cho nên ước vọng của đương số sẽ phụ thuộc, dựa vào, hay giao quyền cho cha mẹ, người nhà thực hiện mộng tưởng của mình. Thậm chí sẽ mang bối cảnh của cha mẹ đưa vào kế hoạch về nguồn vốn mà mình có thể nắm được.
  3. Hóa Quyền còn có thể đại biểu cho danh vọng và uy thế, trường hợp Hóa Quyền [năm sinh] ở Cung Phụ Mẫu, nếu các sao ở trong cung hữu lực, thì một trong song thân của đương số là người có quyền thế. Còn nếu các sao trong Cung Huynh Đệ cũng hữu lực, có thể đoán đương số sinh ra trong hoàn cảnh khá tốt, còn có thể đoán bối cảnh gia đình của đương số khá tốt.
  4. Trường hợp cung lục thân thấy Hóa Quyền, phần nhiều có quan hệ không tốt với lục thân này, đặc biệt có các sao Phá Quân, Thất Sát đồng cung thì càng nặng. Trường hợp Hóa Quyền [năm sinh] ở Cung Phụ Mẫu, trong nhà cha mẹ có thể khá mạnh. Hơn nữa, phần nhiều đương số có cảm giác cha mẹ mình quá độc đoán, giữa hai đời dễ có sự ngăn cách, hoặc trò chuyện với nhau không được tốt.
  5. Thông thường, Hóa Kỵ nhập Cung Phụ Mẫu và xung kích Cung Tật Ách, sẽ làm tâm lí mất quân bình và thường hay đột ngột có cảm giác ưu uất. Nếu có Hóa Quyền [năm sinh] ở Cung Phụ Mẫu, vì Hóa Quyền kiềm chế được Hóa Kỵ, có thể làm giảm tính hung của Hóa Kỵ xung Cung Tật Ách, đương số sẽ mạnh mẽ để đối mặt với vấn đề, thành người không chịu cúi dầu trước trở ngại hay thất bại.
  6. Vì Hóa Quyền ở đối cung của Cung Tật Ách (nơi sâu thẳm nhất trong tâm hồn), đương số sẽ dễ vì lực tác động của Hóa Quyền mà muốn dụng công nghiêm túc. Cung Phụ Mẫu còn là cung vị chủ về “quang minh”, cho nên có thể thành tựu ở phương diện nào đó (phần nhiều là về học hành, bằng cấp, v.v..). Hóa Quyền ở cung này sẽ tạo ra một kì vọng trong đời người, cho nên lúc đương số có được bằng cấp, giấy chứng nhận, phần nhiều là có hướng thực dụng. Khác với Hóa Quyền ở Cung Quan Lộc chỉ chủ về học thuật mà không chủ về phát đạt.
  7. Cung Phụ Mẫu là cung vị tài bạch của Cung Nô Bộc, trường hợp Hóa Quyền ở cung vị tài bạch của Cung Nô Bộc, xét ở góc độ tiền bạc, là chủ về bạn bè hay thân nhân khá mẫn cảm với tiền bạc, có khát vọng kiếm tiền, hơn nữa phương thức kiếm tiền của họ nhiều khả năng có liên quan đến cha mẹ của đương số.
  8. Tiếp theo trên, vì có Hóa Quyền, là chủ về bạn bè hay thần nhân có năng lực khá tốt, còn có tính chuyên nghiệp và thực tế. Nhưng cũng vì lực tác động của Hóa Quyền, nên bạn bè hay thân nhân sẽ làm việc theo nguyên tắc, thiếu thái độ thân thiết và hòa đồng.
  9. Cung Phụ Mẫu là cung vị khí số của con cái, trường hợp Hóa Quyền ở cung vị quan lộc của Cung Tử Tức, có thể đoán con cái có chí hướng cao, biết tự lập, tự cường và có tự ái. Ngoài ra, vận trình học hành của con cái cũng khá tốt. Nhưng cũng vì ảnh hưởng của Hóa Quyền, quan hệ giữa đương số với con cái không được hòa hợp, quản con cái không nổi.
  10. Cung Tử Tức còn là cung vị đại biểu cho hợp tác đầu tư, trường hợp Hóa Quyền ở cung vị khí số của Cung Tử Tức, nếu xem về công ty kinh doanh, cổ đông hợp tác. Thì chủ về hiệu quả kinh doanh khá tốt.
  11. Cung Phụ Mẫu còn có thể dùng để xem cấp trên, trường hợp có Hóa Quyền, là cấp trên có năng lực, có quyền lực, ở thế khá mạnh. Hơn nữa, vì Hóa Quyền chủ về thái độ thiếu thân thiết và thiếu hòa đồng, nên sẽ tạo nhiều áp lực khiến đương số cảm thấy có sự ngăn cách với cấp trên, khó trò chuyện trao đối với nhau.

Hóa Khoa Cung Phụ Mẫu

Khi Sao Hóa Khoa nhập thủ Cung Phụ Mẫu. Các trường hợp cụ thể được phân tích như sau:

  1. Hóa Khoa có hàm nghĩa bình hòa, tri thức, khí chất, giáo dục, v.v… Trường hợp Hóa Khoa ở Cung Phụ Mẫu. Chủ về cha mẹ là người hiểu biết hoặc có giáo dục, ít nhất nhìn bề ngoài cũng có khí chất, có công phu hàm dưỡng, hoặc là có tố chất học thuật, có năng lực chuyên môn.
  2. Trong Tử Vi Đẩu Số, cung lục thân đều có tính so sánh, trường hợp Hóa Khoa ở Cung Phụ Mẫu, là chủ về cha mẹ văn nhã, hữu lễ hơn đương số, có tố chất học hành và công phu hàm dưỡng sở học đều hơn đương số. Suy diễn rộng ra là, dưới sự dạy dỗ của cha mẹ, đương số cũng có nên tảng giáo dục và khí chất khá tốt.
  3. Về ý nghĩa, Cung Phụ Mẫu bao gồm song thân, trường hợp Hóa Khoa ở Cung Phụ Mẫu, có thể giải thích là, cha mẹ sống với nhau hòa mục, là tấm gương để đương số noi theo, trong cách nhìn của đương số, cha mẹ là hình tượng một đôi vợ chồng rất tốt đẹp.
  4. Cung Phụ Mẫu còn là cung vị đại biểu cho công danh, giấy tờ chứng nhận, v.v… Trường hợp có Hóa Khoa, là chủ về đương số có học thức, học lực khá tốt. Nhất là vì Hóa Khoa ở cung chủ về giấy tờ chứng nhận, nên phần nhiều họ đều có văn bằng cao, lúc đi học có thành tích rất khá.
  5. Tiếp theo trên, Cung Phụ Mẫu chủ về “quang minh”, thường thường cũng liên quan đến quan ti, quan phi (liên quan đến pháp luật). Trường hợp Hóa Khoa ở Cung Phụ Mẫu, là chủ về cha mẹ có tác dụng bảo vệ, bản thân đương số sẽ không dính đến kiện tụng thị phi.
  6. Đặc sắc của Hóa Khoa là rất biết đạo lý, Hóa Khoa ở Cung Phụ Mẫu, cha mẹ là người rất biết đạo lý, đương nhiên duyên phận của đương số với song thân rất tốt đẹp, ít có sự ngăn cách giữa hai đời. Đối ứng tình hình này trong cuộc đời của đương số, là lúc còn đi học đương số ít chống đối cha mẹ, rất biết tự ái, và có lòng tự trọng.
  7. Tiếp theo trên, đối với đương số, song thân có tác dụng rất quan trọng trong quá trình trưởng thành. Thêm vào đó, Hóa Khoa có tác dụng bảo vệ, chiếu cố, tuy rơi vào “tha cung”, nhưng vẫn có ý nghĩa “song thân là quý nhân” của đương số, gặp bất cứ vấn đề gì, đương số đều nghe theo ý kiến của cha mẹ, có tác dụng giúp ích đương số rất nhiều.
  8. Cung Phụ Mẫu còn đại biểu cho cấp trên trong môi trường làm việc, trường hợp thấy Hóa Khoa là duyên với cấp trên khá tốt, cũng có hàm ý bậc trưởng bối là quý nhân. Thấy Hóa Khoa ở Cung Phụ Mẫu của đại vận, thường thường là được cấp trên thương mến và nâng đỡ.
  9. Xem xét từ góc độ Cung Tử Tức, Cung Phụ Mẫu là cung vị khí số của Cung Tử Tức, Hóa Khoa ở cung vị khí số của Cung Tử Tức, có ý tượng là con cái của đương số có EQ cao, rất biết tiết chế bản thân, có bản lĩnh để tiến lên.
  10. Trường hợp Cung Phụ Mẫu thấy Hóa Kỵ, sẽ kích phát Cung Tật Ách mà sinh ra bệnh biến, nếu thấy Hóa Khoa ở Cung Phụ Mẫu, thì có thể chuyển hoán Hóa Kỵ một cách hữu hiệu, phần nhiều cũng có tác dụng bảo vệ sức khỏe. Nhưng đồng thời, Cung Tật Ách bị xung kích là chủ về tâm tình buồn phiền, u uất. Có Hóa Khoa ở Cung Phụ Mẫu, thì không vì chịu áp lực mà bị bệnh tâm lí.

Hóa Kỵ Cung Phụ Mẫu

Khi Sao Hóa Kỵ nhập thủ Cung Phụ Mẫu. Các trường hợp cụ thể được phân tích như sau:

  1. Cung Phụ Mẫu là đại biểu cho song thân, trường hợp Hóa Kỵ ở Cung Phụ Mẫu, là chủ về cha mẹ sống với nhau không được hòa hợp, thậm chí còn có nhiều điềm báo khác. Như quan hệ giữa cha và mẹ không đơn thuần, có thể một trong hai người có thêm người khác. Cũng cùng một dạng, cung có thể dung nạp hai người là Cung Phu Thê, có thể dựa vào lí này mà suy ra.
  2. Vì giữa các cung lục thân có ý nghĩa so sánh, nên chí ít đương số cũng cho rằng, trong song thân có một người không hơn đương số, bất luận về học lực, về kiến thức, hay ở phương diện nhân sinh quan, đương số đều cảm thấy cách suy nghĩ của mình đúng hơn, sáng suốt hơn.
  3. Hóa Kỵ còn có ý tượng là “làm cho rối rắm”, “làm phiền” và “phức tạp hóa tình cảm”. Vì vậy trường hợp Cung Phụ Mẫu có Hóa Kỵ, là chủ về cỏ sự ngăn cách giữa hai đời, nhưng đương số lại rất quan tâm song thân, tức có hiện tượng vừa thương yêu vừa oán giận, hoặc thương yêu người này mà oán giận người kia. cũng có trường hợp đối đãi với cha mẹ không như nhau (có thể đặc biệt gần gũi cha mà xa lánh mẹ, hay ngược lại). Lúc lực tác động của Hóa Kỵ bị đại vận khơi động, thường thường song thân khó ở chung.
  4. Cung Phụ Mẫu là tượng trưng cho văn thư, công danh, khoa cử. Trường hợp có Hóa Kỵ, tất nhiên sẽ tạo thành lực xung kích quá trình học tập của đương số, phần nhiều học lực sẽ không cao, hoặc việc học có thời gian đình chỉ tạm thời.
  5. Tiếp theo trên, vì Hóa Kỵ ở cung tượng trưng cho học lực, thông thường là đương số chọn loại nghề nghiệp khó phát huy những gì đã được học ở trường, phần nhiều sẽ tìm con đường khác, hay học môn mới để vận dụng. có thể trong quá trình học tập đã từng nỗ lực học hai lãnh vực khác nhau.
  6. Vì Cung Phụ Mẫu còn tượng trưng cho văn thư, sự quang minh, trường hợp Hóa Kỵ ở Cung Phụ Mẫu là chủ về đương số sẽ gặp phiền phức về văn thư, còn liên quan đến danh dự, cho nên khá dễ dính đến kiện tụng thị phi.
  7. Nghĩa rộng của Cung Phụ Mẫu không chỉ đại biểu cho cha mẹ, mà còn có bậc trưởng bối, những người bề trên. Trường hợp Hóa Kỵ ở Cung Phụ Mẫu, là chủ về không có duyên với cấp trên. Nói một cách khác, vì có ý tượng đối đãi đơn phương, nên cấp trên sẽ mang lại rất nhiều áp lực cho đương số.
  8. Cung Phụ Mẫu ở cung vị khí số của Cung Tử Tức, cho nên EQ của con cái không cao, thiếu lòng tự tin, và vấn đề thiếu lòng tự ti của con cái cũng sẽ ảnh hưởng đến đương số (xung kích Cung Tật Ách của đương số), có hàm ý là, đương số rất quan tâm lo lắng cho con cái.
  9. Tiếp theo trên, vì Hóa Kỵ ở Cung Phụ Mẫu, là ở “tha cung”, do đó sẽ xung kích Cung Tật Ách. Cung Tật Ách là đại biểu cho nơi sâu thẳm nhất trong tâm hồn, là cái kho chứa tâm trạng và cách suy nghĩ ở tầng thâm sâu. Mà đối tượng nội dung chứa trong cái kho này lại lẫn lộn tốt xấu, mâu thuẫn nhau. Lúc “nộ khí công tâm”, xung kích Cung Tật Ách, đương số rất dễ tranh cãi với người khác, nhất định sẽ dùng lời lẽ khắc bạc, độc mồm độc miệng khiến cho người ta phải kinh ngạc hình tượng thường ngày bị sụp đổ.
  10. Cung Tật Ách đại biểu cho sinh mệnh và thể chất của đương số, còn Cung Phụ Mẫu thì có hàm nghĩa “di truyền”. Trường hợp Cung Phụ Mẫu có Hóa Kỵ, là chủ về gene di truyền không được tốt. Do Hóa Kỵ xung kích Cung Tật Ách, nên tâm hồn và thể chất đều ngầm có nỗi lo. Lúc hành hạn khai động Hóa Kỵ ở Cung Phụ Mẫu, hoặc có điềm triệu ở Cung Điền Trạch của đại vận, thì bệnh tật do di truyền dễ bộc phát. Ngoài ra, vì tận nơi sâu thẳm nhất trong tâm hồn có cách suy nghĩ bế tắc, bị xung động, nên dễ sinh ra bệnh tâm lí, đương số có nguy cơ mắc chứng âu sầu, chứng cyclothyme cao hơn người người bình thường.

Ảnh hưởng của Phụ Tinh tới Cung Phụ Mẫu

Sao Kình Dương, Đà La 

Bất cứ tại vị trí nào, cha mẹ và con cũng không hợp tính nhau

Liêm đồng cung: hai thân hay mắc nạn, nhất là kiện cáo tù tội và thường phải xa cách nhau. Gia đình túng thiếu.

Sát đồng cung: Sớm xa cách hai thân, cha mẹ khó tránh được hình thương họa hại.

Tham đồng cung: cha hay mẹ là người hoang đàng chơi bời. Sớm xa cách một trong hai thân.

Sao Hỏa Tinh, Linh Tinh 

Bất cứ tại vị trí nào, cũng giảm thọ. Trong nhà thiếu hòa khí.

Tham đồng cung: cha mẹ qúy hiến và giàu sang

Phá đồng cung: sớm khắc hai thân. Nếu không, cũng phải sớm xa cách, đi cư ngụ ở nơi đất khách quê người, cha mẹ thường mắc tai nạn bất kỳ, rất đáng lo ngại.

Sao Địa Không, Địa Kiếp

Bất cứ tại vị trí nào, hai thân cũng vất vả. Nếu không cũng bất hòa, cha mẹ và con không hợp tính nhau.

Sao Văn Xương, Văn Khúc

Hai thân có danh chức.

Sao Thiên Khôi, Thiên Việt

Cha thường là con trưởng. Nếu không, cũng đoạt trưởng có danh chức

Sao Tả Phù, Hữu Bật 

Hai thân khá giả, nâng đỡ con trong nhiều công việc. Trong nhà có hòa khí. Nếu Tả, Hữu lại gặp nhiều Sát tinh xâm phạm, cha mẹ thật khó tránh được những sự chẳng lành, hoặc là hình khắc chia ly, hoặc là tai ương họa bại.

Sao Lộc Tồn

Hai thân có của, nhưng con phá tán mất khá nhiều. Cha mẹ và con không hợp tính nhau. Nên ở xa cha mẹ.

Sao Thiên Mã

Hai thân có danh giá, nhưng thường hay xa cách nhau.

Lộc: cha mẹ rất khá giả. Nhưng con nên ở xa cha mẹ.

Đà: hai thân bất hòa, thường hay xung đột. Cha mẹ và con không hợp tính nhau. Nên ở xa cha mẹ.

Nếu Mã, Đà lại gặp thêm nhiều Sát tinh xâm phạm, chắc chắn là cha mẹ bỏ nhau. Nếu không, cũng một còn một mất, từ lúc con còn ít tuổi. Ngoài ra, cha mẹ thường mắc phải những tai nạn rất đáng lo ngại.

Sao Thái Tuế

Trong nhà thiếu hòa khí, hay có sự tranh chấp. Cha mẹ và con không hợp tính nhau. Nếu

Tuế lại gặp thêm nhiều Sát tinh nhất là Đà, Kỵ xâm phạm, tất cha mẹ phải xa cách nhau. Gia đình ly tán. Ngoài ra, cha mẹ thường hay mắc tai họa, đáng lo ngại nhất là mắc kiện cáo.

Sao Cô Thần, Quả Tú 

Hai thân không hợp tính nhau. Cha mẹ và con không thể ở gần nhau lâu được. Nếu Cô, Quả lại gặp nhiều Sát tinh xâm phạm, tất sớm khắc một trong hai thân. Nên làm con nuôi họ khác.

Sao Đào Hoa, Hồng Loan 

Cha hay mẹ thường là người tài hoa, phóng đãng. Nếu Đào, Hoa lại gặp Vượng, Thái đồng cung, tất cha có vợ lẽ, ngoại tình, hay mẹ là người bất chính.

Cung Phụ Mẫu có Tuần Triệt án ngữ

Dù cung Phụ Mẫu tốt hay xấu, cũng sớm khắc một trong hai thân. Nếu không, tất phải sớm xa cách hai thân, hay làm con nuôi họ khác.

Phải nhận định nghịch đảo ảnh hưởng của những sao tọa thủ: tốt hóa xấu, xấu thành tốt, để luận đoán sự giàu nghèo, sang hèn của cha mẹ.

Cung Phụ Mẫu Vô Chính Diệu

Phần lớn các sách Tử Vi của Việt Nam nói rằng coi Chính diệu xung chiếu như Chính diệu tọa thủ. Tuy nhiên điều này không đúng, không thể mang ông hàng xóm về làm bố mình được. Cổ Học sẽ có bài viết chi tiết về vấn đề Cung Phụ Mẫu vô chính diệu

Phụ Mẫu Liên Quan Gì Tới Tật Ách – Cụ Thiên Lương

Các đấng tiên hiền xưa đã có câu ”cha mẹ hiền lành để phúc cho con và cha ăn mặn thì con khát nước”. Thiết tưởng đó là luật nhân quả sâu xa của một truyền thống riêng cho từng gia đình. Có lẽ vì thế Cung Phụ Mẫu trong Tử Vi mới đứng cân phân với Tật Ách của lá số.

Biết rằng luật âm dương mật thiết cho Tử Vi như hình với bóng và vì có lý âm dương mới cho phép ta phân biệt và tìm phăng ra đầu mối nhờ mọi sự thiết yếu của số. Thì mọi lý lẽ của mỗi cung số đều nên nhận xét là ở một thế tứ tượng trong lưỡng nghi nào.

Mười hai cung trong lá số dĩ nhiên căn bản là Mệnh. Cái sườn nhà có vững chắc thì nhà mới đỡ rung rinh lúc gặp mưa giông bão táp. Cái nhà có đứng vững ở không gian là do tay thợ lành nghề biết kiến tạo, nhưng một phần quan trọng cũng phải do nơi vị trí căn nhà đó dựng lên trước kia là gì? Đầm ao sinh lầy hay là đất thịt cứng chắc tức là cha mẹ sinh dưỡng truyền thống cho bản mệnh luôn luôn kình chống tật ách.

Như Mệnh Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật thì Phụ Mẫu phải là Sát Phá Tham, Tử Phủ Vũ Tướng, Cung Tật Ách đương nhiên là đồng phái với Phụ Mẫu là Sát Phá Liêm Tham hay Tử Phủ Vũ Tướng, một thế đứng của tứ tượng.

  • Mệnh ở Ngọ, Phụ Mẫu ở Mùi có Tử Phá, Tật Ách là Thiên Tướng (Sửu) sinh xuất cho Di để uy hiếp Mệnh.
  • Mệnh ở Tỵ, Phụ Mẫu ở Ngọ có Tử Vi, Tật Ách là Tham Lang (Tí) được cung Tài sinh nhập tức là Mệnh Phải tốn hao tiền tài.
  • Mệnh ở Thìn, Phụ Mẫu ở Tỵ có Tử Sát, Tật Ách là Thiên Phủ (Hợi) sinh xuất cho Thê ở Dần phải hứng chịu nhiều rắc rối.
  • Mệnh ở Mão, Phụ Mẫu ở Thìn có Tử Tướng, Tật Ách là Phá Quân (Tuất), được Mệnh sinh xuất là chính mình trồng cấy hậu quả.
  • Mệnh ở Dần, Phụ Mẫu ở Mão có Tử Tham, Tật Ách vô chính diệu (Dậu) phúc đức lãnh nhân quả của tiền nhân.
  • Mệnh ở Sửu, Phụ Mẫu ở Dần có Tử Phủ, Tật Ách là Thất Sát (Thân), Quan Lộc (công việc) tạo lấy nhân quả.
  • Mệnh ở Tí, Phụ Mẫu ở Sửu có Tử Phá, Tật Ách là Thiên Tướng (Mùi), sinh xuất cho Di để chống lại Mệnh.
  • Mệnh ở Hợi, Phụ Mẫu ở Tí có Tử Vi, Tật Ách là Tham Lang (Ngọ) gây hao tài cho Mệnh.
  • Mệnh ở Tuất, Phụ Mẫu ở Hợi có Tử Sát, Tật Ách là Thiên Phủ (Tỵ) đem phiền phức cho Thê.
  • Mệnh ở Dậu, Phụ Mẫu ở Tuất có Tử Tướng, Tật Ách là Phá Quân (Thìn), là Mệnh chịu lấy kết quả đã làm.
  • Mệnh ở Thân, Phụ Mẫu ở Dậu có Tử Tham, Tật Ách vô chính diệu (Mão) phúc đức lãnh hậu quả của tiền nhân
  • Mệnh ở Mùi, Phụ Mẫu ở Thân có Tử Phủ, Tật Ách có Thất Sát (Dần) công việc hành động tạo lấy nhân quả.

Mười hai trường hợp trên, lấy Tử Vi đặt vào Cung Phụ Mẫu có ý muốn chứng tỏ vị chúa tinh tuy được gọi là vị tối cao phúc hậu, nhưng hễ đã dính đứng chung với bộ Sát Phá Tham thì cũng không chứng nọ tật kia, như Tử Sát là có sự bất hòa giữa cha mẹ. Tử Phá có sự lìa khắc. Tử Tham phải phân ly thì Cung Tật Ách tất được Phủ, Tướng, mọi sự nhẹ nhàng cho đương số có bệnh tật chỉ là nội thương và dễ gặp thầy thuốc.

Trái lại Phụ mẫu là Phủ Tướng, con phải hứng chịu mọi tai ách hay bạo bịnh, tùy trường hợp nào trong 12 cách ở trên để biết nhân quả. Cơ Nguyệt Đồng Lương và Cự Nhật cũng vậy. Hễ Cung Phụ Mẫu đã liên hệ ít nhiều đến Cự Môn (chính cung hay tam hợp) cũng lắm chuyện chẳng lành không kém Sát Phá Tham là bao. Còn như được Đồng Lương (Âm tinh và Diệu tinh) là 2 vị Phúc tinh thủ đắc cho Phụ Mẫu thì Tật Ách chạy không khỏi Cự Môn sinh nhiều điều phải đề phòng bất trắc.

Tại sao những đấng Phụ Mẫu được coi là có bộ mặt phúc hậu nhất như Tử Vi độc thủ, Tử Tướng, Tử phủ, Đồng Lương lại gây ra những hậu quả không tốt đẹp cho con cái, tức là Cung Tật Ách phải chịu Sát Phá Tham, Cự Nhật hành hạ?

Thưa rằng Tử Phủ Vũ Tướng và Cơ Nguyệt Đồng Lương là 2 bộ hiền lành đâu có lực lượng chống lại Sát Phá Tham và Cự Nhật, là 2 sức mạnh có uy vũ sắc bén, sát khí hung cường, chỉ còn con đường phúc thiện, cố làm điều lành để mua chuộc cho con cháu tránh nẻo chông gai…

Việc này không phải là không có ý nghĩa như Mệnh đóng ở Tuế Phá, Tang Môn, Điếu Khách là người thường xuyên không được hài lòng với công việc mình làm mà vẫn thi gan cùng tuế nguyệt bằng nghị lực Thiên Mã (trong Tử Vi chỉ có 3 hạng người này mới có Thiên Mã). Phần số của họ là coi những tai ương tật ách như cơm bữa, không có gì phải lo ngại, vì Ách cung không bao giờ vắng bóng Thiên Không (chính cung hay tam hợp).

Còn những trường hợp Ách có Tuần hay Triệt hay vô chính diệu hoặc Cung Phụ Mẫu khắc xuất Tật Ách đều có ý nghĩa Tử Phủ, Đồng Lương lấy đức chinh phục tai ách để giảm bớt cường độ của tật ách 5 trường hợp ở trên, người có số nếu được những vị phúc tinh như Thiên Quan, Thiên Phúc, Ân Quang, Thiên Quý phò trợ, không phải tình cờ may mà gặp, mọi sự như đã an bài.

Còn ngoài ra những vị Phụ Mẫu quá hiền hậu như trên (Tử Phủ Đồng Lương) phải coi như bậc hiền nhân đã ý thức được điều phải làm mà chưa đủ âm đức cản trở được nghiệp nhân quả phải bù trừ.

Còn Phụ Mẫu phải lãnh vai trò Sát Phá Tham hay Cự Nhật, người làm con luôn luôn ở trong tình trạng đau lòng vì cảnh mất bình thường như vất vả, chia ly hay náo loạn của đấng sinh thành để cố tạo Cung Tật Ách cho mình ít khi gặp bạo bịnh hay tai nạn nguy hiểm. Ở đây ta phải nhìn nhận là một đường lối hy sinh của cha mẹ cam chịu cảnh bất an để cho con đỡ gặp bước đường đời dày vò phần xác thịt mà người đã nâng niu nuôi nấng yêu dấu cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay.

Cung Phụ Mẫu Phi Hóa

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Lộc

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Lộc nhập Cung Mệnh

  • Cha mẹ rất quan tâm chăm sóc đương số, duyên phận sâu nặng.
  • Quan hệ tốt đẹp với cấp trên hay trưởng bối, thường được họ quan tâm.
  • Đi đòi nợ có thể thuận lợi.
  • Người phối ngẫu có thể giúp vốn cho sự nghiệp của đương số.
  • Đương số là người thích học hành, có thành tích cao.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Lộc nhập Cung Huynh Đệ

  • Tình cảm của cha mẹ tốt đẹp, họ rất quan tâm chăm sóc anh chị em đương số, còn có thể chu cấp cho sinh kế gia đình.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Lộc nhập Cung Phu Thê

  • Cha mẹ hoặc trưởng bối trọ giúp nhiều cho sự nghiệp của đương số, tình thân hòa hợp, sự nghiệp hưng vượng.
  • Người phối ngẫu được gia đình của mình quan tâm và giúp đỡ.
  • Người phối ngẫu rất có duyên với người khác giới, sau kết hôn vẫn giao du với bạn bè khác giới.
  • Quan hệ của người phối ngẫu với cha mẹ đương số khá tốt đẹp, thường được quan tâm chiếu cố.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Lộc nhập Cung Tử Tức

  • Con cái thông minh, rất có duyên với người chung quanh, có tài năng.
  • Cha mẹ rất quan tâm con cái của đương số, tình cảm gia đình rất tốt.
  • Cha mẹ thường đi nơi khác để kiếm tiền, thích ra bên ngoài giao tế thù tạc, quan hệ giao tế khá tốt.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Lộc nhập Cung Tài Bạch

  • Đương số và bạn bè thường tiêu xài tiền chung với nhau.
  • Cha mẹ có tài vận tốt, kiếm tiền nhẹ nhàng, có vận kiếm tiền bất ngờ, nhưng cơ thể yếu nhược.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Lộc nhập Cung Tật Ách

  • Đương số bẩm sinh có thể chất rất tốt, cơ thể khỏe mạnh, động tác nhanh nhạy.
  • Cha mẹ rất có duyên với người chung quanh, quan hệ tốt đẹp, họ rất quan tâm đương số.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Lộc nhập Cung Thiên Di

  • Giữa đương số và cha mẹ có tình cảm rất tốt đẹp, cha mẹ rất quan tâm đương số.
  • Lúc nhỏ đương số học hành có thành tích tốt, tính hiếu động, thích ra ngoài, ở bên ngoài tâm tình vui vẻ.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Lộc nhập Cung Nô Bộc

  • Cha mẹ khỏe mạnh, sống khá thọ, sự nghiệp có thành tựu.
  • Ông chủ hoặc bạn bè có vốn liếng hùng hậu.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Lộc nhập Cung Quan Lộc

  • Cha mẹ có sự nghiệp thành tựu, đương số có thể được thừa kế gia nghiệp, gia nghiệp hưng thịnh, đại phát tài lộc.
  • Bà con dòng họ của người phối ngẫu có trợ lực cho sự nghiệp của đương số.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Lộc nhập Cung Điền Trạch

  • Sự nghiệp hưng thịnh, nguồn tiền rộng và mạnh, gia vận tốt, cuộc sống sang trọng, thoải mái vui vẻ.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Lộc nhập Cung Phúc Đức

  • Cha mẹ tính tình cởi mở, thích giao tế, xem trọng chuyện hưởng thụ, ưa thể diện, vì muốn chiếm cảm tình mà tiêu xài tiền rất rộng rãi.
  • Cha mẹ rất quan tâm đương số, giúp đỡ nhiều, đương số có thể được hưởng phúc.

Cung Phụ Mẫu tự Hóa Lộc

  • Là người có khí độ lớn, có thể làm chủ hoặc ở cấp chủ quản.
  • Thông minh, thành tích tốt, lúc còn đi học được thầy cô thương yêu. Lúc đi làm được mọi người mến.
  • Có phúc ấm của tổ tiên, nhưng không giữ được.
  • Cha mẹ là người khiêm tốn, có tính độc lập, có duyên với người chung quanh, còn có khẩu tài, rộng rãi mà nhiệt tình.
  • Người phối ngẫu xuất thân từ gia đình giàu có.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Quyền

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Quyền nhập Cung Mệnh

  • Đương số nỗ lực làm việc, có thể được cha mẹ, trưởng bối quan tâm và hỗ trợ, quá trình trưởng thành rất đắc ý.
  • Là người ưa cãi lí, không chịu thua.
  • Lúc đương số đi đòi nợ, phải làm mặt “ngầu”, nhưng cũng không nhất định người ta sẽ trả đủ.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Quyền nhập Cung Huynh Đệ

  • Anh chị em phần nhiều là người có tài năng, tính tình cương nghị, có tác phong làm việc quả quyết.
  • Cha mẹ dạy dỗ anh chị em đương số khá nghiêm khắc, phần nhiều phải cạnh tranh với bạn bè đồng sự.
  • Cha mẹ có thể chu cấp cho sinh kế gia đình.
  • Giữa cha mẹ thường xảy ra tranh chấp ý kiến.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Quyền nhập Cung Phu Thê

  • Bản thân đương số có tài năng, có trí tuệ, được cha mẹ hoặc trưởng bối chỉ dẫn, thêm vào đó còn được gia đình của người phối ngẫu trợ lực, khiến công việc hay sự nghiệp có thành tựu.
  • Cha mẹ của đương số dạy dỗ con cái nghiêm khắc.
  • Sự nghiệp của cha mẹ có thành tựu.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Quyên nhập Cung Tử Tức

  • Con cái của đương số có tài năng, có khả năng làm việc độc lập, thông minh, có lực xung kích.
  • Cha mẹ của đương số dạy dỗ con cái nghiêm khắc.
  • Cha mẹ có địa vị xã hội.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Quyền nhập Cung Tài Bạch

  • Đương số hợp tác với người khác bằng nghề chuyên môn của mình, có thể kiếm tiền.
  • Cha mẹ có thể cho tiền giúp đỡ đương số đầu tư sáng lập cơ nghiệp, có thể kiếm tiền.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Quyền nhập Cung Tật Ách

  • Đương số có cơ thể cường tráng, có thể lực tốt, nghịch ngợm, hiếu động.
  • Đương số có tính tình cương cường, cố chấp, không chịu nghe lời nói thằng, ưa ra oai.
  • Cha mẹ ở bên ngoài được người ta xem trọng.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Quyền nhập Cung Thiên Di

  • Cha mẹ của đương số dạy dỗ con cái nghiêm khắc, không thể trò chuyện trao đối với nhau.
  • Cha mẹ ở bên ngoài cạnh tranh với nhiều người, được người ta kính trọng, nhưng cũng dễ có thị phi.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Quyền nhập Cung Nô Bộc

  • Cha mẹ có cơ thể khỏe mạnh, làm lụng vất vả đến già vẫn không chịu nghỉ.
  • Cha mẹ sẽ can thiệp vào chuyện chọn đối tượng giao du của đương số.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Quyền nhập Cung Quan Lộc

  • Bản thân nỗ lực, còn được cha mẹ hoặc trường bối trợ lực, khiến công việc hay sự nghiệp đều được nâng lên.
  • Bạn bè muốn đầu tư vào sự nghiệp của đương số, có thế kiếm tiền.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Quyền nhập Cung Điền Trạch

  • Gia nghiệp do cha mẹ quản lí.
  • Nhờ có người phối ngẫu gia đình trợ lực mà phát tài.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Quyền nhập Cung Phúc Đức

  • Cha mẹ ưa phô trương, vung tay rộng rãi, dám hưởng thụ. Đương số ưa tranh với bạn bè để được chú ý, vì vậy mà hao tài, chuốc tổn hại cho bản thân.

Cung Phụ Mẫu tự Hóa Quyền

  • Cha mẹ có quyền thế.
  • Đương số là người có tài năng, nhậm chức dễ thăng tiến.
  • Thiếu phúc ấm của tổ tiên, có tác phong làm việc quà quyết, tự kinh doanh làm ăn, có thể trở thành nhân vật có tiếng tăm trên thương trường.
  • Người phối ngẫu có duyên với người chung quanh, có tài năng, thích nắm quyền, xem trọng tiền bạc, bà con dòng họ của người ấy nhiều thị phi, hay tranh chấp ý kiến.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Khoa

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Khoa nhập Cung Mệnh

  • Được cha mẹ hoặc trường bối quan tâm, quan hệ giao tế với cấp trên rất tốt, công việc nhẹ nhàng, đắc ý.
  • Lúc đòi nợ bạn bè, sẽ nói khéo léo để thuyết phục họ trả, bạn bè sẽ trả làm nhiều lần.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Khoa nhập Cung Huynh Đệ

  • Cha mẹ có kế hoạch rất tốt về sinh kế gia đình, có thể làm cho người nhà về sau không cần lo lắng.
  • Cha mẹ sống với nhau rất tốt, hòa hợp.
  • Cha mẹ rất quan tâm chăm sóc anh chị em đương số.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Khoa nhập Cung Phu Thê

  • Công việc hay sự nghiệp của đương số được cha mẹ hoặc trưởng bối quan tâm giúp đỡ
  • Gia đình của người phối ngẫu cũng sẽ ra sức trợ giúp, khiến sự nghiệp của đương số phát triển thuận lợi.
  • Người phối ngẫu là con nhà gia giáo, được quan tâm chăm sóc tốt.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Khoa nhập Cung Tử Tức

  • Con cái phần nhiều đều được quý nhân đề bạt, nâng đỡ. Việc học hành và sự nghiệp đều thuận lợi, dễ có thanh danh.
  • Cha mẹ rất quan tâm chăm sóc gia đình, có tình cảm tốt đẹp với con cái của đương số.
  • Cha mẹ ở bên ngoài rất có duyên với người chung quanh, sống hòa hợp với mọi người, có thành danh.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Khoa nhập Cung Tài Bạch

  • Cha mẹ rất quan tâm chăm sóc đương số.
  • Đương số qua lại tiền bạc với bạn bè rất có uy tín, xử lí rành mạch.
  • Đương số với bạn bè cũng thường tiêu xài tiền chung với nhau, đôi bên giúp đỡ lẫn nhau, tiền bạc rõ ràng, ít xảy ra chuyện phiền phức, rắc rối.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Khoa nhập Cung Tật Ách

  • Đương số có cơ thể khỏe mạnh, ít bệnh tật, làm công việc liên quan đến văn hóa giáo dục dễ có tiếng tăm.
  • Cha mẹ rất có duyên với người chung quanh, giao du hòa hợp với mọi người, ít xảy ra tranh cãi, được nhiều người biết tên tuổi.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Khoa nhập Cung Thiên Di

  • Đương số ra bên ngoài được trưởng bối quý nhân trợ lực.thành tích học tập tốt.
  • Cha mẹ của đương số rất có duyên với người chung quanh, giao du bạn bè phần nhiều là người hiền hòa, lễ độ, có thể giúp đỡ lẫn nhau.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Khoa nhập Cung Nô Bộc

  • Cha mẹ lúc còn trẻ rất chuyên tâm học hành và làm việc, hòa hợp với bạn học, đồng sự, đồng nghiệp, công việc thuận lợi, có thành danh.
  • Bạn bè của đương số phần nhiều là người lạnh nhạt với tài lợi, dùng tiền có kế hoạch rõ ràng, không lãng phí.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Khoa nhập Cung Quan Lộc

  • Công việc hay sự nghiệp của đương số được cấp trên hay trưởng bối trợ giúp. Hoặc nhờ quan hệ giao tế của cha mẹ trợ lực, khiến công việc thuận lợi, không có sóng gió trắc trở, tài lợi bình ổn.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Khoa nhập Cung Điền Trạch

  • Cha mẹ rất quan tâm gia đình, giỏi chăm lo việc nhà.
  • Quan hệ gia đình hai bên của vợ chồng rất tốt.
  • Sau kết hôn, đương số có sức khỏe tốt, tâm tình vui vẻ, ít sinh bệnh.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Khoa nhập Cung Phúc Đức

  • Tính tình cởi mở, tâm trạng ổn định, ưa hưởng thụ, có thể cân đối thu chi, không lãng phí, có phúc ấm của tổ tiên.
  • Cha mẹ thanh nhàn, dễ chiếm cảm tình, có thị hiếu lành mạnh.
  • Cha mẹ của đương số có trợ lực cho công việc hay sự nghiệp của người phối ngẫu.

Cung Phụ Mẫu tự Hóa Khoa

Dáng vẻ hiền hòa lễ độ, thanh tú đoan trang, tâm tình bình hòa, xử sự hòa mục thân thiết, là người an phận thủ thường. Lúc đi học có thành tích tốt, dễ có thanh danh.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Kỵ

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Kỵ nhập Cung Mệnh

  • Đương số với cha mẹ dễ có sự ngăn cách giữa hai đời.
  • Đương số khó có con, hoặc ít con.
  • Đương số phản ứng không được nhanh nhạy, là người lương thiện, thiệt thà, dễ bị người ta lừa gạt.
  • Bạn bè mượn tiền khó đòi, có trả cũng sẽ dây dưa, chia ra làm nhiều đợt.
  • Không nên cho người ta vay tiền để lấy lại, dễ giật.
  • Vận học hành không thuận lợi, thành tích kém.
  • Thích nghiên cứu triết học, huyền học, có khuynh hướng tiếp cận tôn giáo, tín ngưỡng.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Kỵ nhập Cung Huynh Đệ

  • Công việc hay sự nghiệp của cha mẹ không thuận lợi, khó gánh vác khoản tiền chi dùng trong sinh hoạt gia đình.
  • Cha mẹ không hòa hợp với anh chị em đương số.
  • Anh chị em hay so đo tính toán, ưa tranh đoạt danh lợi, tình cảm với cha mẹ không tốt, thường oán trách.
  • Cha mẹ dễ xảy ra chuyện phiền phức, rắc rối về tiền bạc với bạn bè của họ.
  • Bạn bè bị áp lực về tài chính.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Kỵ nhập Cung Phu Thê

  • Cha mẹ đối với anh em đương số khá nghiêm khắc, quản lí nhân viên cũng khắc khe.
  • Công việc của cha mẹ không thuận lợi, không trợ lực cho công việc hay sự nghiệp của đương số.
  • Quan hệ giữa cha mẹ với người phối ngẫu không được tốt.
  • Công việc hay sự nghiệp của đương số có thu nhập ít.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Kỵ nhập Cung Tử Tức

  • Con cái phần nhiều có tính bảo thủ, tham vọng không lớn, không có hoài bão, ít gặp quý nhân.
  • Cha mẹ thường bôn ba ở bên ngoài, dễ gặp tai ách.
  • Cha mẹ không ở chung với đương số.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Kỵ nhập Cung Tài Bạch

  • Qua lại tiền bạc với bạn bè dễ xảy ra chuyện phiền phức, rắc rối, thường sẽ bị hao tốn hoặc tổn thất. Lúc bạn bè trả tiền cho đương số sẽ dây dưa kéo dài.
  • Cẩn thận vấn đề văn thư, hợp đồng… dễ vì lầm lẫn mà bị tổn thất, không nên làm người bảo lãnh, sẽ bị liên lụy.
  • Cha mẹ sức khỏe kém, không cách nào giúp đỡ đương số về tài chính.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Kỵ nhập Cung Tật Ách

  • Cha mẹ không được khỏe mạnh, bản thân đương số cũng nhiều bệnh, thể chất yếu, phản ứng chậm, động tác không linh hoạt.
  • Đừng qua lại tiền bạc với bạn bè, sẽ bị giật tiền, đã không đòi được tiền mà còn gặp phiền phức, thị phi kiện tụng.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Kỵ nhập Cung Thiên Di

  • Cha mẹ có quan niệm hoàn toàn khác với đương số, giữa hai đời có sự ngăn cách, sau khi trường thành ít gặp nhau, tình thân nhạt nhẽo.
  • Bạn bè sẽ giật nợ, đương số không đòi tiền được.
  • Đương số tính tình chất phác, phản ứng chậm chạp, ở bên ngoài dễ bị thua thiệt, bị người ta lừa gạt.
  • Cung Phụ Mẫu phi Hóa Kỵ nhập Cung Thiên Di xung Cung Điền Trạch, là ý tượng vợ chồng duyên bạc, kết hôn muộn.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Kỵ nhập Cung Nô Bộc

  • Vận thế của cha mẹ không tốt cơ thể suy nhược, làm việc vất vả mà ít thành, không cách nào chu cấp đủ cho sinh hoạt gia đình, qua lại tiền bạc với bạn bè dễ bị thua thiệt, gặp nhiều khó khăn.
  • Tình cảm giữa cha mẹ không được hòa hợp, gần nhau ít mà xa nhau nhiều.

Cung Phụ Mẫu phi Hóa Kỵ nhập Cung Quan Lộc

  • Vận sự nghiệp không tốt, không thích hợp đi làm hưởng

Thay lời kết

Tóm lại, Cung Phụ Mẫu ở trong nhà thì chủ về cha mẹ, ra ngoài xã hội thì chủ về cấp trên của đương số. Tuy nhiên, trong luận đoán thực tế, cần phải kết hợp xem xét cả tam phương tứ chính của Cung Phụ Mẫu lẫn vòng vận hạn để có thể đưa ra luận đoán được chính xác. Chúc các bạn thành công.

 

Thái Âm ở cung sự nghiệp

Thái Âm chủ về phú mà không chủ về quý, cho nên lúc thủ cung sự nghiệp, ắt sẽ ưa gặp Văn Xương, Văn Khúc hội hợp, mới chủ về có địa vị xã hội.

Thái Âm hội các sao khoa văn, thích hợp với lãnh vực văn nghệ, quảng bá; cũng có thể làm việc trong chính giới, chức trách thường sẽ có liên quan đến văn hóa. Nói các sao khoa văn, tức là chi Văn Xương, Văn Khúc, Long Trì, Phương Các, Thiên Tài, Hóa Khoa.
Nếu gặp các sao khoa văn, lại gặp thêm các sao đào hoa đến hội, sẽ chủ về khuynh hướng nghệ thuật đã thành nếp, nhất là nghệ thuật biểu diễn.
Thái Âm hội Thiên Khôi, Thiên Việt hoặc hội Tả Phụ, Hữu Bật hội hợp, có thể làm việc trong chính giới, nhưng cần phải có học lực khá mới được thăng tiến đến chức vị cao, nếu không chỉ có hư danh, lên đến một giới hạn nào đó thì không tiến bộ nữa, khiên mệnh tạo cảm thấy mình có tài mà không gặp thời.
Thái Âm nhập miếu, hoặc nhập cách "Cơ Nguyệt Đồng Lương", được Thái Âm Hóa Lộc, Thiên Đồng Hóa Quyền, Thiên Cơ Hóa Khoa, mà không gặp Cự Môn Hóa Kị, lại không gặp sát tinh, thì thích hợp làm những nghề nghiệp hưởng lương, nếu gia nhập quân đội, cảnh sát, hoặc cơ cấu "hình pháp, kỉ luật", có thể được nắm đại quyền, nhất là người sừih vào ban đêm thì càng quý, người sinh vào ban ngày thì kế đó.
Thái Âm lạc hãm, thủ cung sự nghiệp, suốt đời sự nghiệp biến động đa đoan, lại khó tích tụ tiền của.
Nếu Thái Âm lạc hãm, Văn Khúc Hóa Kị đồng độ, là bẩn sĩ thất chí lưu lạc giang hổ.
Thái ÂmĐịa Không, Địa Kiếp hội hợp, còn có các sao khoa văn hội hợp, trong nghề nghiệp có thể đột phá nếp cũ, có phát minh sáng tạo, hoặc là nhà phát minh; không có các sao khoa văn thì lí tưởng vượt quá hiện thực, bất kể làm nghề nghiệp gì, đều dễ thành trống rỗng, không có thực chất.
Nếu thành cách "Cơ Nguyệt Đồng Lưong", nhưng không có "Lộc Quyền Khoa hội", thì phải xem Thái Âm nhập miếu hay lạc hãm. Trường hợp nhập miếu thì có thể phát huy tài năng trong công ti lớn hay tập đoàn lớn; trường hợp lạc hãm thì chỉ nên thuận theo thời thế, thuận theo hoàn cảnh.
Thái Âm là sao tiền tài, chủ về kế hoạch mà không chủ về hành động, cho nên lúc thủ sự nghiệp, dù làm việc hưởng lương cũng có liên quan đến tài chính, nhưng cũng chỉ nên ở bộ phận kế hoạch, mà không nên có hành động thực tế.
Thái Âm nhập miếu, có sao lộc, không có sát tinh hoặc sát tinh ít, gặp Thiên Cơ Hóa Kị hội hợp, thì lại thích hợp sự nghiệp đầu cơ, nhưng cần phải phối hợp với đại vận hoặc lưu niên.
Thái Âm hội Cự Môn Hóa Kị, chủ về nghề nghiệp phải lao tâm tổn thần, hoặc cần phải vất vả nói năng.
Thái Âm gặp Thiên Cơ đồng độ hoặc đối nhau, được cát hóa và có sao cát, thì thích hợp lãnh vực khoa học kĩ thuật, công nghệ, không nên đầu cơ, nhưng công việc vẫn phải có sắc thái lưu động, như khoa học kĩ thuật hàng hải, khoa học kĩ thuật hàng không, sản xuất vận tải, v.v...
Nếu Thiên Cơ Hóa Lộc, Thái Âm Hóa Kị, thì tuyệt đôi không nên đầu cơ. Thái Âm Hóa Kị thủ cung sự nghiệp, dễ có khuynh hướng đầu tư sai lầm, hoặc bị người ta dẫn dụ mà đầu tư bị tổn thất.
Thái Âm hội Thiên Lương Hóa Khoa, thích hợp làm công tác giám đốc, quản đốc, quản lí, hoặc công chứng viên, v.v...
Thái Âm rất ưa Thiên Đồng Hóa Lộc, thì cũng chủ về tay trắng làm nên. Có điều, nếu Thiên Đồng Hóa Kị, có sát tinh, thì chủ về sự nghiệp trắc trở; không có sát tinh, thì thì phát triển từ thấp lên, cuối cùng có thể thành tựu.
Thái Âm độc tọa ở hai cung Mão hoặc Dậu, thủ cung sự nghiệp, gặp Thiên Đồng vây chiếu; trong các tình hình thông thường thì ở cung Dậu ưu hơn ở cung Mão. Trường hợp ở cung Dậu thì sự nghiệp to tát, có thể mở rộng ra nước ngoài, hoặc sự nghiệp có liên quan với nước ngoài; trường hợp ở cung Mão chỉ nên làm việc hưởng lương.
Thái Âm độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, thủ cung sự nghiệp, gặp Thái Dương vây chiếu; nếu Thái Dương Hóa Kị, thi thích hợp làm việc hưởng lương thuộc bộ phận nội vụ; nếu Thái Dương Hóa Lộc, thì đây là nhân tài ngoại vụ. Không có hóa diệu, thì ở cung Tuất ưu hơn ở cung Thìn, nhưng đều chủ về nghề nghiệp có tính chất lưu động, di chuyển.
Thái Âm độc tọa ở hai cung Tị hoặc Hợi, ở cung Hợi ưu hơn ở cung Tị rất nhiều. Trường hợp ở cung Tị dễ rời xa người thân, lưu lạc; trường hợp ở cung Hợi, có cát hóa và sao cát, cũng có thể thành giàu có.
Thái Âm độc tọa ở hai cung Tị hoặc Hợi, thủ cung sự nghiệp, có sát tinh, thích hợp lãnh vực khoa học kĩ thuật, nhất là ngành điện tử, máy tính.
Thái Âm độc tọa ở bốn cung Mão, Dậu, Tị, hoặc Hợi, gặp các sao khoa văn, cũng thích hợp lãnh vực quàng cáo hoặc quáng bá. Nhưng trường hợp gặp Thái Dương và Thiên Lương được cát hóa mới thành hữu dụng.

THIÊN LƯƠNG

 (VƯƠNG ĐÌNH CHI ĐÀM TINH)

(Dịch và bình chú: Hà Phong)

Tương truyền vào thời cổ đại người nghiên cứu về "sao" cho rằng: Nam đẩu chủ sinh, Bắc đẩu chủ tử, Thiên Lương chính là sao quản về tuổi thọ của chòm Nam đẩu, Tham Lang chính là sao quản về tai ách tử vong của chòm Bắc đẩu. (古代星家相传, 南斗主生, 北斗主死, 天梁即为南斗司寿之星, 贪狼为北斗司灾厄死亡之星.)

Cho nên cung Mệnh hoặc cung Tật Ách gặp Thiên Lương, chủ phùng hung hóa cát, tiêu tai giải ách. Còn Tham Lang nếu như gặp sát kị hình hao hội hợp, lại thêm lưu-sát xung khởi, tức sẽ là điềm tử vong, tai ách rất kị gặp Liêm Trinh hóa Kị.

Song việc Thiên Lương có thể tiêu tai giải ách, từ một phương diện khác mà nói, thì tất cần có tai ách phát sinh, rồi sau đó năng lực tiêu tai giải ách mới bắt đầu phát huy. Cho nên phàm người mệnh Thiên Lương, một đời tất nhiều tai nan (không phải tai nạn) (一生灾难必重), khi còn nhỏ tất có tai ách nguy chứng, cuối cùng lại có thể phùng hung hóa cát, nguy mà không nguy vậy.

Thiên Lương không ưa đóng tại 3 cung Tị, Ngọ, Mùi. Đại khái lúc này sẽ hội với Thái Dương lạc hãm ở 3 cung Hợi, Tý, Sửu và vì Thái Dương lạc hãm nên không đủ khả năng giải trừ tính cô khắc hình kị của Thiên Lương (不足以解天梁孤克刑忌之性).

Thiên Lương tại Tị, thì dù không gặp các sao sát kị hình, vẫn chủ một đời nhiều tai nan, hoặc lắm bệnh hoạn, hoặc là làm những công việc có tính chất nguy hiểm. Nếu lại gặp các sao sát kị hình, thì chủ cửu tử nhất sinh, duy là nhất định sẽ vượt qua đại nạn. Mệnh lệ loại này gặp nhiều đến mức quen thuộc, độ chuẩn xác cao. Từng có người bị trói đến pháp trường (để chém/treo cổ), đến lúc cuối cùng lại được cứu.

Thiên Lương tại 2 cung Ngọ, Mùi thì đều chủ dễ bị người ta xa lánh/gạt bỏ/loại trừ. Lại càng đáng chú ý hơn khi Thiên Lương đồng độ với Lộc Tồn, hoặc Thiên Lương hội hợp với Hóa Lộc, đều là cấu trúc rất dễ vời thị phi (皆易招是非尤怨). Nếu như đồng độ với sát diệu, tức thì khẩu thiệt thị phi càng nặng, (mà lại còn) dễ bị đả kích, duy có điều cuối cùng (đều) có thể hóa giải được.

Bất quá, Thiên Lương tại 2 cung Ngọ, Mùi sẽ tương đối cô độc, rất ít nhân duyên, mà lại còn không cậy nhờ được vào lục thân, một đời tương đối gian khổ.

Thiên Lương tại Ngọ mà đồng độ với Văn Khúc thì ngược lại lại là dấu hiệu của đại quí.

Nếu như Thiên Lương và Âm Sát/âm sát đồng độ, lại gặp Thiên Cơ và sát diệu, thì chủ cho người có âm nhãn, có thể nhìn thấy ma quỉ (则主人有阴眼, 能见鬼魅), nếu lại có Linh Tinh đồng cung, thì tính chất này càng nghiêm trọng, có thể phát triển thành suy nhược thần kinh. Chỉ khi được cát hóa và gặp cát diệu, thì người xưa cho rằng mới có thể tránh được vật âm tà (则前人认为可令阴物回避).

Lúc có các sao không hao sát đồng cung, thì đa phần sẽ có khuynh hướng về tôn giáo và thần bí, thời cổ đại thì là thuộc vào tăng đạo (在古代即为僧道之流).

Cổ nhân nói: Cơ Lương hội hợp thiện đàm binh, nhưng mà chương "Chư tinh vấn đáp" trong "Tử Vi đẩu số toàn thư" lại nói: Gặp Thiên Cơ và hao tinh, tăng đạo thanh nhàn. 2 điều này phân biệt là ở chỗ hao tinh.

Cái gọi là hao tinh, thông thường là chỉ Phá Quân, nhưng mà Thiên Lương trong tam phương tứ chính không thể gặp Phá Quân, cho nên có người cho rằng hao tinh là Đại Hao, (chỉ là) Đại Hao chỉ là tạp diệu, tác dụng không có gì là to lớn.

Trong vấn đề này, có thể nói là cổ nhân làm ra thứ huyền hư, tình hình trong thực tế là: Thiên Cơ Thiên Lương đồng độ tại 2 cung Thìn, Tuất, chủ cho người có hứng thứ trên nhiều phương diện (嗜好广泛), đặc biệt là thích khoa trương tài hoa (尤其喜爱炫耀才华), nhưng cũng chỉ là hư ảo/hư ảnh/không ngôn đàm binh (但浮光掠影), chỉ là ngồi một chỗ mà nói chuyện xa ngàn dặm mà không làm được gì/không bắt tay vào làm (坐言万里不能起行). Thời cổ loại văn nhân chỉ giỏi đàm luận binh pháp, vẻ ngoài giống như văn võ toàn tài, chính là kiểu người này (古代文人以能谈兵法为文武兼资, 即是此类).

Thiên Lương là thọ tinh, cho nên khi Thiên Lương và Thiên Thọ đồng cung, thường thường tượng trưng cho việc trong các mối quan hệ có sự khác biệt lớn về tuổi tác.

Ví dụ như, cung Phu Thê gặp Thiên Lương Thiên Thọ đồng cung, nữ mệnh thì lấy chồng lớn hơn mình từ 12 tuổi trở lên (hoặc không thì sẽ ngược lại, lấy chồng nhỏ hơn mình từ 1 đến 3 tuổi); nam mệnh thì lấy vợ ít tuổi hơn mình từ 8 tuổi trở lên (hoặc không sẽ ngược lại, vợ sẽ nhiều hơn 1, 2 tuổi).

Nếu như Thiên Lương đóng tại cung Tử Tức, Thiên Thọ đồng cung, sẽ chủ vãn niên sinh con, hoặc con gái và con trai sẽ có sự chênh lệch khá lớn về tuổi tác.

Nếu như cấu trúc trên ở vào cung Phụ Mẫu, thì tuổi tác của bố mẹ sẽ có sự chênh lệch lớn.

Nếu lại là ở cung Huynh Đệ, thì chủ tự người đó là trưởng nam hoặc trưởng nữ, và có cách biệt lớn về tuổi tác với các em, hoặc là có anh chị em do mẹ kế sinh ra.

Những điều vừa thuật trên có độ chứng nghiệm cao, trong khi quan sát tinh bàn rất có tác dụng.

Mệnh Thiên Lương, thường là chủ sống thọ. Hoặc đối cung (cung Thiên Di) có Thiên Lương cũng như vậy.

Nhưng khi có các sao sát kị hao đồng độ với Thiên Lương, thì sống thọ không đồng nghĩa với sự khỏe mạnh (所谓有寿却不等于健康), có khả năng là sống lâu nhưng có bệnh, hoặc là phục dược để kéo dài tuổi thọ (từng có người hút/hít nha phiến để trị bệnh khạc ra máu, cũng tức là một ví dụ về việc phục dược kéo dài tuổi thọ).

Vì thế Thiên Lương cũng là tinh diệu của việc "uống độc dược" (天梁亦为吸毒服药的星曜), lại càng rõ tính chất này hơn khi hội với Thái Dương lạc hãm, (mà lại thêm) có Hỏa Linh đồng độ, lại thêm vào đó là những tạp diệu mang tính chất không tốt đẹp, thì sẽ chủ có khuynh hướng "uống độc dược" (trường kì dùng thuốc an thần cũng là một dạng uống độc dược).

Nước Trung Quốc thời cổ đại, danh sĩ tùy theo thời mà có thói quen dùng độc dược khác nhau, như là thời Ngụy Tấn danh sĩ dùng "ngũ thạch tán" (五石散), thời Đường Tống danh sĩ dùng "đan hống" (丹汞), cho đến đời Thanh thì danh sĩ dùng nha phiến (鸦片), đều thuộc loại mệnh cục này. Cho nên người mệnh Thiên Lương, cũng đa phần có phong độ của danh sĩ. Thiên Lương Thiên Đồng đối củng (Hà Phong: Đồng Lương đối củng ở Tị Hợi, Đồng Lương đồng cung ở Dần Thân) hội với sát diệu Không Kiếp, đa phần như trên miêu tả.

Sao Thiên Lương có phong phạm/khí chất của danh sĩ (名士风范), cho nên thích gặp Phụ Bật, Xương Khúc, Khôi Việt. Cổ nhân cho rằng: Thiên Lương và Văn Xương cư miếu vượng, vị tận đài cương (台纲 – vị trí giềng mối/cương lĩnh); Thiên Lương Tả Hữu Khúc gia hội, xuất tướng nhập tướng (出将入相 – trước làm tướng võ, sau làm tướng văn); Thiên Lương cư Ngọ đồng cung với Văn Khúc, vị trí đứng đầu tỉnh (台省之位). Đại khái từ thời Tống về sau, trọng danh sĩ hơn là trọng môn đệ, cho nên Thiên Lương ngộ cát (sẽ) chủ thanh quí (清贵 – trong sạch và quí hiển). Ở thời nay, sẽ là người làm chuyên môn (专业人士), mà cũng đa phần có vị trí hạt nhân trong lĩnh vực quản lí kế hoạch (且多居监核管理计划之职).

Nếu như Thiên Lương gặp các sao sát kị hình hao, tất khí chất danh sĩ biến thành lãng đãng bất kham (浪荡不羁, 羁 - Ki: dàm/cương ngựa). Cổ nhân cho rằng: Lương Đồng đối cung ở Tị Hợi nam lãng đãng, nữ đa dâm (thời cổ đại nữ nhân lãng đãng tức là xướng kĩ, cho nên mới đoán là đa dâm); Thiên Lương Thiên Mã hãm, là người phiêu đãng phong lưu; Lương tại Dậu, Nguyệt tại Tị, là khách phiêu bồng (Hà Phong: chú ý là lúc này Dương Lương đồng cung tại Dậu). Xấu nhất thì là Thiên Lương tại Tị, Hỏa Tinh Đà La đồng độ, thì không chỉ một đời nhiều tai ách, mà còn cô khắc lục thân, đời người lãng đãng không có chỗ dựa/che chở.

Thiên Lương cũng là sao của "giới truyền thông" (传播之际星), tính chất truyền thông này, là do vì Thiên Lương mang sắc thái của văn diệu, cho nên khi có Xương Khúc Thiên Tài đồng độ, hoặc cung Quan Lộc có Cự Môn đồng cung hoặc đối củng, thì tất có khuynh hướng theo nghiệp truyền thông. (Hà Phong: an Cự Môn, thì tiếp theo là Thiên Tướng, rồi đến Thiên Lương; cho nên Mệnh Thiên Lương luôn luôn có Cự Môn ở cung Phu Thê, nên nhất định là đối cung với cung Quan Lộc).

Nhưng nếu Thiên Lương đồng cung với các sao đào hoa, thì có khuynh hướng của biểu diễn nghệ thuật, nếu lại gặp sát diệu, sẽ chủ vì sắc mà gặp họa (因色致祸), phàm người mệnh Thiên Lương, cung Phu Thê tất có Cự Môn, cho nên đối với hôn nhân nên có thêm sự chú ý/chú tâm.

Thiên Lương tại Tý, nếu (gặp) nhiều sao đào hoa, càng chủ tìm kiếm kích thích (尤其喜找寻刺激), lấy chuyện khốn nhiễu trong tình cảm làm việc vui (以感情困扰为乐事). Lúc này, nếu Xương Khúc hội hợp, thì Xương Khúc cũng trở thành đào hoa, tuyệt không chủ cho người có địa vị cao quí. Mà là một đời người nhiều lãng đãng bất định (且人生亦多浮荡无根).

Cho nên sao Thiên Lương, tuy có ý tứ của sự che chở (虽有荫庇之意), lại còn là thọ tinh, nhưng ngược lại lại không phải là trọn vẹn cát lợi (但却并非全吉), nên khi luận đoán nên lưu ý cung Phúc Đức, và việc hội hợp với Thái Dương là miếu vượng hay lạc hãm. Do vì Thiên Lương tại Mệnh cung, thì cung Phúc Đức nhất định có liên quan đến Thái Âm, cho nên luận Thiên Lương tất cần kiêm luận Nhật Nguyệt.

(Hà Phong: Thiên Lương vốn được gọi là ấm tinh, nhưng xem ra không phải toàn vẹn tốt đẹp).

(Hà Phong: Thiên Lương vĩnh viễn tam hợp với Thái Âm, phàm Mệnh Thiên Lương thì cung Tài Bạch sẽ có Thái Âm, và Thái Âm luôn đối cung với cung Phúc Đức).

Thái Dương : Dương Hoả

Sao Thái dương là tinh hoa của mặt trời, là Dương Hoả, khí của nó phát ra giúp giải tính ám Cự Môn, soi rọi Thiên lương bớt hình khắc, làm chủ 4 mùa. Cho nên Thái Dương chủ về quý hiển, mà Thái Dương phát xa, cho nên không chủ về giàu có, bởi tiền bạc thì ưa tích tụ. vì vậy Thái Dương quý hiển, là quyền tinh, chủ cung Quan Lộc. Thái Dương là Dương Hoả, Hoả thì linh động, thay đổi, khí của Thái Dương lại phát ra, nên người Thái Dương Sao Thái dương có tính động, chủ về một đời không được nhàn nhã, Thái Dương phát xạ chủ quý hiển mà không chủ giàu có cho nên dù gặp Lộc tồn cũng phải vất vả mới kiếm được tiền bạc. bởi người Thái Dương ưa danh vị, quyền quý hơn là tiền bạc, cho nên có quyền trước rồi mới có tiền sau, Thá Dương là Dương Hoả chủ về Tâm, lực. cho nên càng kiếm được nhiều tiền thì cũng phải lao tâm, lao lực nhiều và khó được yên ổn.

Thái Dương là Dương Hoả cho nên người Thái Dương hay nóng nảy, dễ giận, nhưng cũng dễ nguôi, như ngọn lửa bùng cháy rồi lại yên tĩnh, Dương Hoả thì mãnh liệt nên người Thái Dương tính cương nghị, mạnh mẽ, thường tự mình gánh vác trách nhiệm. Dám yêu dám hận, tính tình khảng khái, không so đo tính toán. Tính cách cởi mở, nhiệt tình bác ái, lạc quan thành thật, chí công vô tư. Độ lương khoan dung, khẳng khái tự tin, tích cực tiến thủ, hành động nhanh nhẹn. Sôi nổi hiếu động, có năng lực lãnh đạo và năng lực tổ chức, biết thuyết phục lòng người, thẳng thắn, dễ đắc tội với người khác.

Không để ý tiểu tiết lặt vặt, giỏi giao tiếp, thích thể hiện. Mệnh nữ thường hướng ngoại, hoạt bát, động lập tự chủ, có tính cách của đang ông, cương trực đảm đang, thích phục vụ mọi người, có duyên với người khác giới, gặp nhiều sóng gió trong tình cảm, nên tìm đối tượng có tính ôn hòa. Sao Thái dương miếu vượng chủ về vương phu ích tử, gặp thêm Cát tinh sẽ phú quý. Nếu lại gặp thêm Hóa Quyền, Hóa Lộc, hoặc Lộc tồn thì sẽ có phong tặng. Nếu gặp Sát tinh sẽ bình thường.

Vầng Thái dương có lúc mọc lúc lặn, nên trong lá số, sao Thái cũng biến đổi theo từng cung Mệnh: tại Dần địa Mão địa là mới mọc, tại Thìn Tị là thăng điện, tại Ngọ là mặt trời giữa trời gọi "nhật lệ trung thiên", tại Mùi Thân là xế bóng làm việc trước chuyên cần sau trễ nải, tại Dậu là lặn về Tây hữu danh vô thực, đẹp mã mà rỗng tuếch, tại Tuất Hợi Tý Sửu là mất sáng, cuộc đời dễ nghèo khó vất vả, tính cách khó gần, dễ gặp chuyện thị phi.

Thái Dương là sao rất nhạy cảm với Tuần Triệt cho nên Thái Dương gặp Tuần Triệt phần nhiều là khó khăn vất vả, cuộc đời khó mà được an nhàn, phải lao tâm nhiều. cũng bởi Thái Dương chủ sự quý hiển, ưa danh vị cho nên gặp Tuần Triệt chủ về danh vị khó bảo toàn, học hành thi cử lận đận, sự nghiệp dễ gãy đổ, mà sự quý hiển của Thái Dương không được đảm bảo thì làm sao đảm bảo được tiền tài, cho nên Thái Dương Tuần Triệt phần nhiều vất vả. Thái Dương Tuần Triệt chủ mệnh nam khắc bố, mệnh nữ khắc chồng, phần nhiều cuộc sống gia đình có sự bất ổn.

Thái Dương chủ quý hiển thì Thái Âm chủ về tiền bạc, khi xem Thái Dương phải xem Thái Âm thế nào, bởi Thái Dương Thái Âm là cặp sao đôi, là cặp Âm Dương. khi Thái Âm gặp Tuần Triệt thì cái Thái Dương tuy có cố gắng rất nhiều, làm việc rất nhiều, thì cái sự đền đáp về mặt tiền bạc thường không được như ý muốn, đây là Thái Âm đã kém đi nhiều vậy, cho nên bộ Âm Dương không nên gặp Tuần Triệt, nếu Âm Dương hãm địa cũng không nên có Tuần Triệt mà nên có quyền lộc hoặc hoá khoa hay Lộc tồn hơn chủ về danh vị tốt và có tiền bạc. Gặp Tuần Triệt tuy có bớt đi cái xấu nhưng khó mà có danh vị, và phần nhiều vất vả về tiền bạc.

Thái Dương là sao Dương Hoả, có tính dương cương mạnh mẽ, thẳng thắn, khí khái, không sợ tiểu nhân, điều tiếng, thuộc kiểu nói thẳng, có sao nói vậy. cho nên khi Thái Dương hoá Kỵ năm Giáp dù là đắc địa cũng chủ về hay bị thị phi, bị ghen ghét, bị người khó ưa, ngấm ngầm hãm hại, mà Thái Dương tính mạnh mẽ chắc chắn sẽ không thể yên ổn mà chịu bị điều tiếng xấu nên dễ vùng vẫy, mà càng vùng vẫy thì Thái Dương dễ trở nên lao tâm, lao lực nhiều. cho nên nhiều người nói Thái Dương đắc địa ưa gặp hoá kỵ là không chính xác vậy.

Thái Dương gặp Hoả Linh chủ về tính nóng vội nên làm việc dễ hỏng, Hoả quá mãnh liệt mà khắc người thân, nhất là bố hay chồng. bản thân khó dược yên ổn, dù có danh vị cũng rất vất vả. Thái Dương gặp Kình Đà thì chủ về người dễ có bệnh về Thần kinh và mắt, Thái Dương chủ hệ thần kinh, là sao nhạy cảm, Kình Đà chủ thương tổn, nên có thể nói là thương tổn về thần kinh và mắt vậy. Thái Dương là sao có năng lực nghiên cứu khoa học, nhất là các ngành kỹ thuật, cho nên Thái dương đắc địa gặp Không Kiếp chủ người có sự sáng tạo vượt trội, tư duy thiên bẩm, thuộc dạng cực kỳ thông minh, đi vào khoa học nghiên cứu rất tốt vậy.

Bộ Âm Dương rất ổn định, cho nên Âm Dương ưa lục cát tinh, Tả Hữu Khôi Việt Xương Khúc, khi có lục cát tinh thì con người vốn thông minh sẵn có lại nhờ lục cát tinh mà dễ đạt được danh vị, tiền bạc. khi xem Âm Dương nhất định phải xem trọng Đắc Hãm, có Tuần Triệt hay không, sau đó xem tứ hoá thế nào, Thái Dương hoá lộc thì vì tiền bạc mà cái sự quý hiển giảm sút, trong xã hội trọng tiền bạc thì Thái Dương hoá lộc rất vất vả để kiếm tiền. Thái dương là quyền tinh nên ưa Hoá quyền cũng chủ quyền chức cao và ổn định, có Lộc tôn thì vất vả mà tích luỹ được tiền bạc.

Sao Phá Quân

I. Phá Quân tổng luận

Phá Quân là sao thứ bảy của Bắc Đẩu, thuộc dương thủy. Trước đã nói Phá Quân trong Đẩu Số gọi là "tướng tiên phong", cho nên chỉ chủ về "xung phong", mà không chủ về "lui lại phòng thủ". Cũng tức là nói, phàm người có Phá Quân thủ mệnh thì chỉ có thể công mà không thể thủ, hơn nữa, sau khi công thành trì xong cũng sẽ để lại cho người khác cố thủ, bản thân lại phải đi xung phong ở trận chiến khác.
Về phương diện biểu hiện cụ thể, phàm người có Phá Quân thủ mệnh nhất định không thể ở yên, nếu nói về nhận lãnh chức vụ, thì người chủ nhất định sẽ giao nhiệm vụ khó khăn cho anh ta, đợi giải quyết xong khó khăn, lại điều phái đi làm việc khác, sẽ không bao giờ ngồi không mà hưởng, thậm chí còn không được hưởng thành quả do bản thân mình nỗ lực mà có.
Cho nên khi luận đoán tình huống cát hung của Phá Quân, cần phải xét xem nó có tính an định hay không, và năng lực khai sáng của nó lớn hay nhỏ. Đồng thời điều cần chú ý nhất là, bản thân nó có thể sáng lập sự nghiệp không, hay chỉ thích hợp bận rộn vất vả vì người khác.
Phá Quân rất ưa gặp Lộc Tồn và Hóa Lộc, ưa nhất là bản thân Hóa Lộc. Được sao lộc thì chủ về việc khai sáng có thu hoạch, nếu không, cuộc đời sẽ bận rộn vất vả vì người khác, chỉ mất công vô ích, còn bản thân thì được hưởng rất ít.
Cho nên khi gặp Phá Quân Hóa Lộc, mệnh tạo kiêm nhiều nghề, nhiều việc, nhiều chức vụ, hoặc gánh vác chức trách một cách quá mức.
Gặp Phá Quân Hóa Quyền, tình huống này đã thuật ở trên, nhưng so với Hóa Lộc thì vất vả hơn nhiều, nhưng thanh thế thì càng hiển hách.
Nếu Phá Quân không gặp sao lộc, lại không gặp Hóa Quyền, thì cần phải gặp Tả Phụ, Hữu Bật, mới chủ về có trợ lực, có thể giảm thiểu vất vả và lo lắng.
Nếu không gặp cát hóa, lại không gặp các sao phụ, tá cát, mà trái lại, gặp các sao sát kị cùng đến xâm phạm, thì cuộc đời mệnh tạo chỉ có thể làm công việc có tính phá hoại, mà thiếu tính khai sáng.
Cổ nhân nói: "Phá Quân gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, chủ về bôn ba vất vả, phạm pháp kiện tụng" (Phá Quân Hoả Linh, bôn ba lao lục, quan phi tranh môn); cổ nhân còn nói: "Phá Quân có Kình Dương, Đà La đồng cung, chủ về bị tàn tật." (Phá Quân Dương Đà đồng cung, chủ hữu tàn tật.); lại còn nói: "Sao hình và sao kị đồng cung, chủ về bị tàn tật." (Hình kị đồng cung, chủ hữu tàn tật); là nói lí lẽ này.

Thậm chí ở cung sự nghiệp cũng không nên có như vậy. Cổ nhân nói: "Phá Quân gặp Kình Dương, Đà La ở cung quan lộc, chủ về đi xứ khác kiếm ăn." (Phá Quân Dương Đà quan lộc vị, đáo xứ cầu khất).

Trong số sao cát, cũng không ưa Văn Xương, Văn Khúc, vì khí chất khác nhau. Cổ nhân nói: "Phá Quân có Văn Xương, Văn Khúc đồng cung, chủ về một đời làm bần sĩ." (Phá Quân Xương Khúc đồng cung, nhất sinh bần sĩ); chỉ khi nào Phá Quân độc tọa của cung Dần, có sao cát, mới ưa gặp Văn Xương, Văn Khúc. Cổ nhân nói: "Phá Quân ở cung Dần có Văn Xương, Văn Khúc đồng cung, chủ về quý." (Phá Quân Xương Khúc đồng cung vu dần, chủ quý).

Còn liên quan đến Thiên Mã, cũng có một số tổ hợp chủ về không ổn định. Bởi vì lực phá hoại của Phá Quân đã có ý vị không ổn định, gặp thêm Thiên Mã, ắt chủ về ý chí bất định, rời xa người thân, lưu lạc phóng đãng, không làm nghề chính đáng; nếu gặp thêm sao đào hoa, nữ mệnh càng chủ về ý chí bạc nhược, thấy mới là thay đổi. Khẩu quyết của phái Trung Châu là: "Phá Quân không có cát hóa, Lộc Tồn và Thiên Mã hội hợp với sát tinh, nam mệnh và nữ mệnh đều chủ về phóng đãng. Nữ mệnh đẹp thì cũng như Hồng Phất." (Phá Quân vô cát hoá, Lộc Mã hội sát, nam nữ lãng đãng. Nữ mệnh giai giả diệc như Hồng Phất.) Hồng Phất là thị tì của Dương Nghiệp, người đời Đường, đã lén bỏ theo Lí Tịnh, có chép trong sách sử.

"Sát, Phá, Lang" đều chủ về biến hóa thay đổi, nhưng tính chất hoàn toàn khác nhau.

Biến hóa thay đổi của Tham Lang rất nhu hòa, có ý vị phấn son, trang điếm và tư lợi, do đó chủ về ngầm thay đổi, tuyệt đối không có hành vi kinh thiên động địa, thậm chí còn có chút ý vị tu bổ, sửa chữa.

Biến hóa thay đổi của Thất Sát có thể đến đột ngột, khiến người ta không liệu tính được, hơn nữa sự thay đổi của nó chưa chắc có liên quan đến chuyện cũ, nghề cũ, có thể là một hành động hoàn toàn mới, như đổi việc làm, đổi nghề.

Nhưng biến hóa thay đổi của Phá Quân thì phải là "từ chuyện cũ mà sáng lập ra cái mới". Bất kể cải biến thành thứ to tát gì, cũng đều phải có liên quan đến chuyện cũ. Nhưng, do Phá Quân có ý vị phá hoại trước rồi mới kiến thiết sau, do đó cũng sẽ vì "chuyện cũ" mà phát sinh khó khăn, sau khi giải quyết xong những khó khăn này lại khai sáng ra cục diện mới. Người có Phá Quân thủ mệnh đặc biệt vất vả là vì lí do này.

Vả lại, sau khi Thất Sát và Tham Lang biến hóa thay đổi, có thể an hưởng thành quả của nó, còn Phá Quân thì không, lại chủ về công mà không chủ về thú, nếu bị buộc phái thủ thành thì trái lại, sẽ sầu khổ, nếu ở cung phúc đức thì càng như vậy.

Phá Quân chỉ có một tổ hợp tinh hệ chủ về vừa có thể công, vừa có thể thủ, gọi là cách "Anh tánh nhập miếu".

Kết cấu của cách cục này là Phá Quân độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, đối củng với "Liêm Trinh, Thiên Tướng". Phá Quân của bản cung Hóa Quyền, Liêm Trinh của đối cung Hóa Lộc đến chiếu, lại gặp các sao phụ, tá đến hội hợp, không có các sao sát kị hội chiếu, đây là cách cục thượng thượng. Cổ nhân nói: "Anh tinh nhập miếu, địa vị đến bậc tam công", (Anh tinh nhập miếu, vị chí tam công), là nói cách cục kể trên.

Có điều cách này không hợp với người sinh năm Bính, ngại vì Phá Quân không có sao lộc, hơn nữa còn có Liêm Trinh Hóa Kị đối củng, trái lại sẽ chủ vẽ cuộc đời nhiều lo lắng, họa hoạn, thị phi.

Ngoài ra còn có một hung cách. Lúc Phá Quân thủ mệnh, chỉ có một mình Văn Khúc Hóa Kị đồng độ, không thấy Văn Xương đến hội hợp, hoặc tuy có gặp Văn Xương, nhưng đồng thời cũng gặp các sao sát, kị, hình, thì gọi là "Phá Quân ám tinh". Văn Khúc Hóa Kị trở thành "ám tinh", ở đây không chỉ Cự Môn.

Cổ nhân nói: "Phá Quân và ám tinh cùng ở một chỗ trong nước, làm mộ phần." (Phá Quân ám diệu cộng hương thuỷ trung, tác trủng), khiến người ta hiểu lầm là nói về tai nạn sông nước, thực ra không phải, mà là nói "Phá Quân gặp ám tinh ở ba cung Hợi, Tí, Sửu, giống như nhập vào mộ phần, chủ về khốn khó đình trệ, chứ chẳng phải nói "tai nạn bất ngờ". Ba cung Hợi, Tí, Sửu thuộc thủy, cho nên nói là "trong nước" (thủy trung) mà thôi. Còn việc hiểu lầm "ám tinh" là Cự Môn, đã xảy ra nhiều tranh cãi. Người biết thì xem đây là điều cực kì bí mật, không chịu nói cho ai biết, khiến cho người nghiên cứu Đẩu Số gặp nhiều khó khăn.

Phá Quân ở trong 12 cung luôn luôn đối nhau với Thiên Tướng, ảnh hưởng của Phá Quân rất là quan trọng đối với việc Thiên Tướng thuộc về "Tài ấm giáp ấn" hay là thuộc về "Hình kị giáp ấn".

Phá Quân độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, đối cung sẽ là "Liêm Trinh, Thiên Tướng"; ở hai cung Mão hoặc Dậu có "Liêm Trinh, Phá Quân" đồng độ; cho nên bốn cung Tí, Ngọ, Mão, Dậu, là tổ hợp "Liêm Trinh, Phá Quân, Thiên Tướng".

Phá Quân độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, đối cung sẽ là "Tử Vi, Thiên Tướng"; ở hai cung Sửu hoặc Mùi có "Tử Vi, Phá Quân" đồng độ, cho nên bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là tổ hợp "Tử Vi, Phá Quân, Thiên Tướng".

Phá Quân độc tọa ở cung Dần hoặc Thân, đối cung sẽ là "Vũ Khúc, Thiên Tướng"; ở hai cung Tị hoặc Hợi có "Vũ Khúc, Phá Quân"đồng độ; cho nên bốn cung Dần, Thân, Tị, Hợi là tổ hợp "Vũ Khúc, Phá Quân, Thiên Tướng".

Đại khái là, lấy trường hợp "Vũ Khúc, Phá Quân" ở hai cung Tị hoặc Hợi là khá tốt; còn Phá Quân độc tọa ở hai cung Dần hoặc Thân là rơi vào hãm địa, rất bất lợi.
II. Phá Quân biệt luận
1. Sáu kết cấu tinh hệ Phá Quân

Về phương diện quan hệ với tinh hệ hội hợp, bố trí của Phá Quân ở trong tinh bàn có sáu loại như sau:

- Ở hai cung Tí hoặc Ngọ, Phá Quân độc tọa, đối cung là "Liêm Trinh, Thiên Tướng".

- Ở hai cung Sứu hoặc Mùi, Phá Quân đồng độ với Tử Vi.

- Ở hai cung Dần hoặc Thân, Phá Quân độc tọa, đối cung là "Vũ Khúc, Thiên Tướng".

- Ở hai cung Mão hoặc Dậu, Phá Quân đồng độ với Liêm Trinh.

- Ở hai cung Thìn hoặc Tuất, Phá Quân độc tọa, đối cung là "Tử Vi, Thiên Tướng".

- Ở hai cung TỊ hoặc Hợi, Phá Quân đồng độ với Vũ Khúc.

Từ các tổ hợp trên có thể biết, các sao có quan hệ mật thiết nhất với Phá Quân, ngoài Thất Sát và Tham Lang tương hội ở "tam phương tứ chính", còn có bốn sao Tử Vi, Vũ Khúc, Liêm Trinh, Thiên Tướng.

Thông thường, Phá Quân rất ưa gặp Tử Vi, bởi vi Tử Vi có thể khiến Phá Quân giảm bớt lực phá hoại. Nhưng thực ra, trong tình huống này nó như con ngựa bị cương tỏa, khiến cho kết cấu tinh hệ này tràn đẩy mâu thuẫn, cho nên hễ Phá Quân thủ mệnh ở bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, đều có thể khiến tinh thần của mệnh tạo bất an, khó chịu, thường tìm cách phát tiết, để giải tỏa sự mất quân bình về tâm lí. Nếu nó gặp các sao sát, kị thì phần nhiều cảnh ngộ đời người sẽ trắc trở, gập ghềnh, bất đắc chí, tâm lí mất quân bình càng nặng hơn. Nói "tính phản nghịch", tức là nói kết quả của sự ảnh hưởng kềm chế lẫn nhau của hai sao "Tử Vi, Phá Quân". Tuy nhiên, "tính phản nghịch" này sẽ không biểu hiện tùy tiện.

"Tử Vi, Phá Quân" thêm vào tính chất của Thiên Tướng, dễ phát triển thành mẫu người thần kinh chất; trừ phi cung mệnh gặp sao lộc, mà còn tụ tập đủ các sao cát, khiến cảnh ngộ đời người thuận lợi toại ý. Nếu không, mệnh tạo sẽ dễ đột nhiên phản ứng một cách dữ dội, mà bản thân họ cũng không khống chế nổi tâm trạng này.

Phá Quân và Liêm Trinh hội hợp trong tình hình tốt, có thể cương nhu chế hóa lẫn nhau; nhưng nếu hội hợp trong tình hình xấu, thì biến thành xung đột thị phi, họ sẽ không từ thủ đoạn nào để giải quyết mâu thuẫn.

Vũ Khúc có tính chất "cô độc và hình khắc", hội hợp với Phá Quân, khiến mệnh tạo có tính cách lạnh lùng, nghiêm khắc một cách quá đáng, dễ phát triển thành tự tư tự lợi, chỉ nghĩ đến bản thân.

Muốn thay đổi tính cách này, cần phải có nỗ lực hậu thiên cực lớn. Kết cấu tinh hệ này rất kị gặp các sao khoa cử công danh, bởi vì có thể phát triển thành tính nết kì quái lạnh lùng, mà nội tâm lại ưa có tiếng tăm. Rét căm căm mà không chịu mặc áo ấm, có lẽ là mẫu người có kết cấu tinh hệ kiểu này.
2. Phá Quân thủ mệnh không ưa an định

Do Phá Quân có lực phá hoại khá nặng, vì vậy cổ nhân cho rằng nó hóa khí làm "hao". Ý nghĩa của "hao" là tiêu ma, vì lực phá hoại của Phá Quân sẽ không đến một cách đột nhiên, mà thường thường có mang tính chất "tiêu ma", khiến cho sự tình từ tiệm biến chuyển thành đột biến. Hành động của con người thuộc hậu thiên thường có thể bổ cứu cho sự thiếu sót của tiên thiên, Phá Quân là một ví dụ, bởi vì trong quá trình chuyển biến, mệnh tạo có rất nhiều cơ hội để xoay chuyển tình thế của mệnh vận.

Cổ nhân ưa an định, mà không ưa biến động, thay đổi, cho nên không đề cao tính cách của Phá Quân. Đối với nữ mệnh Phá Quân, nhất là người xinh đẹp, cổ nhân nói: "Nếu nữ mệnh gặp Phá Quân, chủ về không có bà mai mà tự gả", "Sao Phá Quân tính bất minh." Chú thích nói: "Đây là sao cô độc dâm dật, không thích hợp với nữ mệnh; thêm tứ sát tinh, ắt sẽ vì gian dâm mà hại chồng, vì ghen ghét mà hại con, không phải vậy thì là xướng kĩ, tì thiếp thấp hèn."

Những luận đoán trên có thể đúng phần nào với xã hội cổ đại, bởi vì phụ nữ thời đó không có sự nghiệp riêng. Người có Phá Quân thủ mệnh lại cần phải tìm kích thích về tâm lí mới được quân bình, cho nên dễ dẫn đến gia đình bất hòa, thậm chí luân thường đảo lộn. Nhưng ở xã hội hiện đại thì khác, phàm là nữ mệnh có Phá Quân tọa mệnh, nhất định không chịu làm bà nội trợ, bởi vì có thể tìm kích thích trong sự nghiệp, sức mạnh "tiêu ma" cũng từ gia đình dời vào trong cương vị công tác.

Về đại thể, người có Phá Quân thủ cung mệnh hay thủ cung thân, nhất định không chịu sống nhàn hạ, dù sự nghiệp đã thành cục diện ổn định, họ cũng phải tìm cho được chuyện làm để khiến người ta phải kinh hãi. Nếu sức mạnh bảo thủ quá lớn, thì họ sẽ dễ thành người làm mưa làm gió.

Do đó, muốn đánh giá Phá Quân, cần phải tính đến đặc tính này. Giả dụ có thể đặt người này vào một cưong vị có tính độc sáng, họ có thể phát huy được sở trường, khiến sự nghiệp có thể thành tựu một cách đột phá, sáng tạo ra cục diện mới. Nếu có ý định không thay đổi, thì không thích hợp với người có Phá Quân thủ mệnh.

Đây chính là điểm mà cổ nhân đã căn cứ để bình luận về nữ mệnh Phá Quân. Vì vậy, ở thời hiện đại có một số người Phá Quân thủ mệnh cực kì oan uổng, họ bị xem là "bọn gây ra thị phi". Thực ra có thể chỉ vì thượng cấp của họ không biết dùng sở trường của họ.
3. Phân biệt các "động tinh"

Trong Đấu Số có mấy sao có tính chất "động" cần phân biệt một cách tinh tế, như: Thiên Cơ, Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, Thiên Mã.

Tính "động" của Thiên Cơ là "động" của "động não", như thay đổi kế hoạch, mưu tính, v.v...

Tính "động" của Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, về đại thể là chỉ một giai đoạn biến động thay đổi về sự nghiệp hoặc cuộc sống. Như sự nghiệp căng thẳng, nhân sinh quan thay đổi, v.v...

Tính "động" của Thiên Mã là chi "động" của thân thể, như đến nơi khác ở, hay đi tiếp xúc công việc, hoặc bôn ba vì sinh kế...

Đây là đại cương phân biệt các "động tinh". Nhưng có lúc về chi tiết vẫn rất dễ lẫn lộn. Ví dụ như nhìn mệnh bàn phát hiện ra mệnh tạo có sự thay đổi về công việc, đây là vì lưu niên gặp Thiên Cơ, nhưng cũng có người là vì gặp phải Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, làm sao phân biệt? về đại thể, vì tính "động" của Thiên Cơ mà xảy ra thay đổi, là thuộc về tính kế hoạch; còn vì Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang mà xảy ra thay đổi, thì ít nhiều có mang ý vị khai sáng.

Ví dụ như, có người bôn ba, bận rộn là vì ảnh hưởng của Thiên Cơ, nhưng có người lại vì cung mệnh hoặc cung phúc đức gặp Thiên Mã. Làm sao phân biệt các trường hợp này? Về đại thể, bôn ba của Thiên Cơ vẫn là vì kế hoạch; còn bôn ba của Thiên Mã là do nghề nghiệp phải như vậy. Ví dụ như một thương nhân vì phải bàn bạc kế hoạch đầu tư, nên phải đi phi cơ thường xuyên giống như đi taxi, đây là "động" của Thiên Cơ. Nhưng một nữ tiếp viên hàng không cũng phải đi phi cơ thường xuyên giống như đi taxi, thì lại thuộc tính "động" của Thiên Mã chủ động.

Ba sao Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang ở trong mệnh bàn là then chốt của sự biến động. Ở xã hội cổ đại, người xưa quan niệm nên tĩnh không nên động, mọi việc đều chú trọng phòng thủ, đi buôn xa không bằng mở hiệu buôn tại chỗ, người có học thì sợ sự nghiệp có sự thay đô’i, thay đổi thì danh tiếng sẽ không như ý, cho nên ba sao này bị xem là "Trúc la tam hạn".

Nhìn từ quan điểm của xã hội hiện đại, sự nghiệp thay đổi chẳng có gì phải sợ, trái lại đây còn có thể là cơ hội của đời người, do đó cách đánh giá "Sát, Phá, Lang" cũng phải khác với thời cổ đại.

Tuy về đại thể đều có tính chất biến động thay đổi trong cuộc đời người hoặc sự nghiệp, nhưng mỗi sao vẫn có đặc tính khác nhau.

Tính cách của Thất Sát chủ về "độc lai độc vãng", có sức khai sáng mạnh mà còn "phá hoại trước rồi kiến thiết sau", nhưng thiếu thận trọng. Cho nên cổ nhân đánh giá không cao người có Thất Sát thủ mệnh, cho rằng khó được vinh hiển. Xã hội ngày nay khác với xã hội thời cổ đại, người có tính cách mạo hiểm, trái lại sẽ dễ khai sáng sự nghiệp, hơn nữa, cơ hội khai sáng cũng nhiều hơn. Tại sao khó được vinh hiển?

Phá Quân giống Thất Sát, cũng có đặc tính phá hoại, chủ về biến động cực kì lớn, có thể ảnh hưởng cả một cuộc đời, nhưng nếu phân tích tỉ mỉ thì vẫn có sự phân biệt. Phá Quân thích hợp khai sáng mà bất lợi về phòng thủ, cho nên sau khi khai sáng sự nghiệp được chừng vài năm thì bắt đầu chán, mất hứng thú; còn người có Thất Sát thủ mệnh thì trái lại, vẫn có thể tiếp tục phát triển sự nghiệp. Cho nên Thất Sát tuy có tính "độc lai độc vãng", nhưng lực phá hoại lại nhẹ hơn Phá Quân. Cho nên cổ thư đánh giá Phá Quân thấp hơn Thất Sát, nói là "phóng đãng ".

Tham Lang cũng chủ về biến động, thay đổi, nhưng nhỏ mà còn ổn trọng. Vì vậy thiếu tính khai sáng, hơn nữa tính chất biến động, thay đổi lại thiên nặng về quan hệ xã giao. Vì vậy người có Tham Lang thủ mệnh thường chỉ tiếp cận một số người trong nhất thời, qua một thời gian là bắt đầu xa cách. Tính cách này rất bất lợi đối với sự nghiệp, ngày nay cũng phải có cách nhìn khác.

Hiểu rõ những đặc tính trên, khi phán đoán vận trình sẽ chính xác hơn.

Tử Vi ở cung tài bạch

Tử Vi thủ cung tài bạch, ở trong tình hình tốt nhất, cũng chỉ chủ về nguồn tiền tài sung túc, chẳng chủ về có thể tích lũy. Tử Vi thiên nặng về danh dự và quyển lực, không phải là sao tiền tài.Tử Vi Hóa Quyền thủ cung tài bạch, gặp sát tinh, đồng thời sẽ gặp Vũ Khúc Hóa Kị, nên không chủ về giàu có, trừ phi làm những nghề nghiệp "dùng công cụ sắc bén đế kiếm tiền" (như bác sĩ ngoại khoa, nha khoa, ẩm thực, cắt tóc, v.v...), nếu không sẽ chủ về bề ngoài thấy có vẻ như dư già, nhưng thực tế lại túng thiếu.
Tử Vi Hóa Quyền, không gặp sát tinh, mà được "bách quan triều củng", thì phương diện tiền bạc dễ được người khác chi trợ; cung mệnh là "Liêm Trinh, Thiên Phủ" cũng chủ về có thể nắm quyền tài chính.
Tử Vi Hóa Khoa, thì nên dựa vào danh dự, tiếng tăm, thương hiệu đế kiếm tiền; được "bách quan triều củng"thì càng đúng; gặp sát tinh, thì tiếng tăm giám hay phạm vi nổi tiếng thu nhỏ lại.
Tử Vi ưa có Lộc Tồn hay Hóa Lộc đồng độ hoặc vây chiếu, ở thể thay đổi vẻ bề ngoài sung túc thành bên trong sung túc thực sự, Tử Vi Hóa Khoa hay Hóa Quyền càng tốt.
Tử Vi có Hỏa Tinh đồng độ ở hai cung Tí hoặc Ngọ, vì đối nhau với Tham Lang nên cũng chủ về hoạnh phát nhất thời. Nếu Tham Lang ở đối cung thành cách cục "Hỏa Tham", "Linh Tham" thì cũng vậy. Trừ phi cung mệnh hay cung sự nghiệp có cát hóa và sao cát, nếu không khó giữ lâu dài.
Tử Vi ở hai cung Tí hoặc Ngọ, thủ cung tài bạch, có Tả Phụ, Hữu Bật hội hợp, chủ về nguồn tiền tài đến từ nhiều phương diện. Tử Vi ở các cung khác thì mức độ tốt bị giảm đi, nhưng cũng thường được người khác cung ứng hay ủng hộ về tiền bạc.
Nếu Tham Lang ở đối cung Hóa Kị, bản cung Tử Vi có cát tinh và sát tinh lẫn lộn, thì lúc được người khác cung ứng tiền bạc phải kèm điều kiện trao đổi, thậm chí có thể thành tham ô.
Tử Vi độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, là "cô quân", chủ về kiêm tiền khá gian khổ; nếu là "tại dã cô quân", tức là có các sao sát, hình, hao bao vây trùng trùng ở tam phương tứ chính, sẽ chủ về phung phí, dù nhất thời hoạnh phát cũng không thể giữ lâu.
"Tử Vi, Phá Quân" ở hai cung Sửu hoặc Mùi thủ cung tài bạch, chủ về cuộc đời ắt có một lần được tiền bất ngờ. Nói vể mức độ, ở cung Mùi ưu hơn ở cung Sửu; gặp cát tinh thì tính chất của "tiền bất ngờ" là tốt lành; gặp sát tinh thì tính chất của "tiền bất ngờ" là hung hiểm. Có điều, sau khi đắc ý lúc lưu niên đến cung Sửu hay cung Mùi sẽ xảy ra phá tán, hao tài cực lớn. Nếu có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung, sau khi phá tán, hao tài sẽ nghèo khổ hơn lúc chưa được tiền bất ngờ. Nếu Phá Quân Hóa Lộc, thì dễ tham ô, hoặc vì quá ham tiền mà chơi trò may rủi, mạo hiểm kiếm loại tiền khó có được. Nếu Phá Quân Hóa Quyền, chủ về năng lực vận dụng tiền bạc rất mạnh, trải qua sóng gió, trắc trở mà thành giàu có. Cho nên "Tử Vi, Phá Quân" ở cung tài bạch, Phá Quân Hóa Lộc không bằng Hóa Quyền; nhưng cả hai trường hợp đều chủ về phung phí.
"Tử Vi, Thiên Phủ" ở hai cung Dần hoặc Thân, cần phải xem có sao lộc hay không để định cát hung. Nếu có sao lộc, có thể tích lũy dần mà thành giàu có; không có sao lộc, thì chỉ sung túc mà thôi; nếu không có sao lộc mà có sát tinh, hoặc còn gặp Địa Không, Địa Kiếp, thì chỉ chủ về bề ngoài vẻ vang, mà thường dễ vì cầu tài mà sinh phá tán, thất bại.
"Tử Vi, Thiên Phủ" chỉ chủ về nhờ tích lũy mà trở nên giàu có, nên khác với "Tử Vi, Phá Quân". Ở trong hoàn cảnh bảo thủ thì "Tử Vi, Thiên Phủ" tốt hơn; ở trong hoàn cảnh tiến thủ thì "Tử Vi, Phá Quân" tốt hơn. Có điều, "Tử Vi, Phá Quân" sau khi phát đạt cần phải chọn thái độ bảo thủ, để đề phòng lại bị hao tài, phá tán.
"Tử Vi, Tham Lang" đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu, cũng chủ về phát đột ngột; nêu Tử Vi Hóa Khoa thì "tài khí" đến khá lâu; nếu Tham Lang Hóa Lộc thì "tàu khí" đến khá nhanh, đột ngột, nhưng cũng ngầm chứa nguy cơ hao tài, phá tán.
"Tử Vi, Tham Lang" được "bách quan triều củng", chủ về có thể phát tài nhưng không phát đột ngột; nếu là "tại dã cô quân" thì chỉ chủ về tham tiền, có thể bất chấp thủ đoạn.
"Tử Vi, Tham Lang" đồng độ với Lộc Tồn, gặp Địa Không, Địa Kiếp, chủ về suy sụp nhanh chóng. Nếu có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng cung, tính chất phát đột ngột sẽ biến thành phát đạt nhanh. Nếu có Hỏa Tinh, Linh Tinh mà không có Địa Không, Địa Kiếp, thì còn có thể bổ cứu, sau khi phát đạt cố gắng duy trì thành tựu đã đạt được thì có thể tránh suy sụp.
"Tử Vi, Tham Lang" có Hỏa Tinh, Linh Tinh giáp cung, cũng chủ về phát đột ngột; giáp Tham Lang Hóa Lộc, thì mức độ phát đột ngột càng lớn; ưa nhất là giáp Tử Vi Hóa Khoa, vừa phát đột ngột mà còn có tiếng tăm, hoặc nhờ phát mà gây dựng thương hiệu.
"Tử Vi, Tham Lang" ở cung tài bạch, cũng chủ về phung phí, thường hay giao tế thù tạc một cách vô vị. Nhung trường hợp Tham Lang Hóa Lộc thì lại có thể nhờ giao tế thù tạc mà kiếm được tiền.
"Tử Vi, Tham Lang" ở cung tài bạch, nguồn tiền tài đến từ nhiều phương diện.
"Tử Vi, Thiên Tướng" đồng độ ở hai cung Thìn hoặc Tuất, dù được cát hóa và có sao cát tụ tập, cuộc đời vẫn sẽ có một lần sóng gió, trắc trở, hoặc ở vào trạng thái khó có tiến bộ. Cần phải vượt qua thời kì này, mới có thể khai vận.
Nêu có các sao hình, sát, kị, hao, không những xảy ra sóng gió, trắc trở, mà còn phải chi tiêu nhiều cho những sự cố bất trắc, khiến nhập không bằng xuất.
"Tử Vi, Thiên Tướng" được "Tài ấm giáp ấm", có thể hưởng "phụ ấm", hoặc nắm quyền tài chính của gia tộc, thừa kế gia nghiệp. Nếu bị "Hình kị giáp ấn", sẽ chủ về tổ nghiệp điêu linh, bản thân cũng cảm thấy bị áp lực về tiền bạc.
"Tử Vi, Thiên Tướng" có Tả Phụ, Hữu Bật hội hợp, thì nên giúp người khác quản lí tài chính, không nên tích cực khai triển sự nghiệp của bản thân. Dù bản thân có sự nghiệp, củng nên làm vệ tinh cho người khác, như làm đại lí, làm chuyên viên bán hàng, làm chuyên viên môi giới, v.v...
Có điều, "Tử Vi, Thiên Tướng" đồng độ, thủ cung tài bạch, cuộc đời ắt sẽ có tiền bất ngờ, có thể chủ về phát đột ngột. Nếu không có các sao sát, kị thì có thể tích lũy.
"Tử Vi, Thất Sát" ở cung hai cung Tị hoặc Hợi, giỏi quản lí tài chính hơn là giữ tiền, nên sự nghiệp thường to lớn, không tương xứng với tài sản tích lũy được của bản thân. Cung tài bạch có cách cục này chủ về vốn liếng của bản thần dổn hết vào vốn của công ti.
"Tử Vi, Thất Sát" đồng độ với Lộc Tồn, năng lực giữ tiền khá mạnh, nhưng dễ vì tiền mà thất nghĩa.
"Tử Vi, Thất Sát" ở cung tài bạch cũng có thể phát đột ngột, chỉ khó kéo dài, gặp sát tinh thì tình hình này càng nặng. Cũng chủ về tiền bạc biến động thay đổi, vì vậy, nếu bản thân theo sự nghiệp kinh doanh, thì cần phải xem xét kĩ cát hung của lưu niên để tham khảo phương cách tiến thoái. Lúc gặp trở ngại thì không nên vọng động, nếu không ắt sẽ bị phá tán, thất bại. Gặp sao lộc thì tốt hơn.
"Tử Vi, Thất Sát" có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung, là điềm phá tán, thất bại rất nhanh.
Nhưng trường hợp "Tử Vi, Thất Sát" gặp cục "Lộc Mã giao trì", không có sát tinh, có thể phát đạt ở nước ngoài (hoặc nơi xa); nếu ở nơi sinh ra (hay nơi đã ở lâu) sẽ gặp nhiều sóng gió, trắc trở, tức là chỉ thích hợp rời khỏi quê hương.
"Tử Vi, Thất Sát" mà Tử Vi Hóa Quyền, rất nên rời xa quê hương.
Hễ "Tử Vi, Phá Quân", "Tử Vi, Tham Lang", "Tử Vi, Thất Sát" thủ cung tài bạch thì đều chủ về bạo phát bạo bại, nhưng trong đó cũng có sự khác biệt. "Bại" của "Tử Vi, Phá Quân" là vì sau khi phát đạt còn mưu toan khai sáng sự nghiệp mới mà gây ra; "bại" của "Tử Vi, Tham Lang" là vì sau khi phát đạt thì lãng phí tiền bạc mà gây ra; "bại" của "Tử Vi, Thất Sát" là vì hoàn cảnh bỗng sinh biến động thay đổi. Cho nên trong ba trường hợp, trường hợp "Tử Vi, Thất Sát" là hơi khó chủ động vận dụng đạo "xu cát tị hung".

Cửa ngõ Hà Nội ùn tắc khi người dân trở lại sau Tết

 Đường Pháp Vân hướng vào trung tâm Hà Nội ùn tắc kéo dài do người dân từ các tỉnh đổ về thành phố sau kỳ nghỉ Tết Quý Mão, chiều 25/1 (mùng 4 Tết).

14h30, Quốc lộ 21A đoạn Phủ Lý (Hà Nam) hướng vào cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ ùn tắc khoảng 2 km. Dù kỳ nghỉ Tết còn một ngày, hàng trăm ôtô nối đuôi nhau ở ba làn đường để về Hà Nội. Một số người dân chở theo đồ đạc lỉnh kỉnh trên xe máy phải luồn lách qua những khoảng trống để di chuyển.

Cảnh sát giao thông trực chốt cho biết, tình trạng ùn tắc tại đây bắt đầu từ buổi sáng, khi người dân các tỉnh Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An... trở lại thành phố chuẩn bị làm việc sau kỳ nghỉ.

Cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ đoạn qua nút giao Đại Xuyên (huyện Phú Xuyên) cũng ùn tắc suốt 4 km. Ôtô dàn hàng bốn, nhích từng chút. Những đoạn khác, phương tiện chỉ di chuyển với tốc độ 60 km/h trong khi tốc độ tối đa cho phép là 100 km/h.

Riêng khu vực qua trạm thu phí Liêm Tuyền ùn khoảng 3 km, các phương tiện xếp thành 5 hàng trên 3 làn của cao tốc. Theo đại diện Cục Cảnh sát giao thông, từ 15h, các phuơng tiện di chuyển vào trạm thu phí này được yêu cầu di chuyển ra quốc lộ 1A cũ để đi về Hà Nội nhằm giảm áp lực cho cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ.

Cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ hướng về Hà Nội tại trạm thu phí Liêm Tuyền ùn khoảng 3 km, các phương tiện xếp thành 5 hàng trên 3 làn của cao tốc. Ảnh: Gia Chính

Cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ hướng về Hà Nội tại trạm thu phí Liêm Tuyền ùn khoảng 3 km, các phương tiện xếp thành 5 hàng trên 3 làn của cao tốc. Ảnh: Gia Chính

Ông Vũ Ngọc Oánh, Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần BOT Pháp Vân - Cầu Giẽ, cho biết trạm bố trí gần 15 nhân viên túc trực xử lý sự cố 24/24. Trường hợp trạm gặp trục trặc kỹ thuật, các xe có thể di chuyển bình thường và sẽ trừ tiền sau, mục tiêu là không để ùn tắc kéo dài.

Đại diện Đội Cảnh sát giao thông số 14 dự báo, áp lực sẽ đổ dồn về các tuyến đường phía Nam như Quốc lộ 1, cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ từ hôm nay và ngày mai. Để đảm bảo cho người dân đi lại thuận lợi, các lực lượng thanh tra giao thông, cảnh sát giao thông, cảnh sát trật tự được huy động 100% quân số, chia thành nhiều chốt trực.

Dòng phuơng tiện nối đuôi di chuyển từ cao tốc Pháp Vân huớng vào trung tâm Hà Nội. Ảnh: Hoàng Phong

Dòng phuơng tiện nối đuôi di chuyển từ cao tốc Pháp Vân huớng vào trung tâm Hà Nội. Ảnh: Hoàng Phong

Trước đó, nhằm đảm bảo an toàn cho người dân trở lại nơi làm việc, học tập sau Tết, Cục Cảnh sát giao thông đã gửi điện chỉ đạo Cảnh sát giao thông các địa phương tiếp tục bố trí lực lượng thường trực trên các tuyến đường, giúp đỡ người dân với tinh thần "lúc dân cần Cảnh sát giao thông có, đâu dân khó có Cảnh sát giao thông".